TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
BẢN ÁN 36/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/08/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 57/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXX-ST ngày 15/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thu Th, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lý H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn chị Dương Thị Thu Th trình bày: Chị và anh H kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Hôn nhân là tự nguyện. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung không hạnh phúc, nguyên nhân do hai bên không hòa hợp về tính cách, luôn bất đồng và cãi cọ, thậm chí xúc phạm nhau. Từ năm 2016 đến nay, hai bên sống ly thân. Vì thấy không còn tình cảm yêu thương vợ chồng, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Lý Tiểu B, sinh ngày 30/7/2014, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con cho đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình giải quyết, bị đơn anh Lý H trình bày: Anh thừa nhận việc kết hôn và con chung đúng như chị Th đã trình bày, về mâu thuẫn vợ chồng anh thừa nhận hai bên có mâu thuẫn và không còn tình cảm yêu thương, anh đồng ý ly hôn.
Anh không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà nêu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Chị Dương Thị Thu Th được ly hôn với anh Lý H.
Về con chung: Giao con chung là cháu Lý Tiểu B, sinh ngày 30/7/2014 cho chị Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Dương Thị Thu Th phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Dương Thị Thu Th yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với Lý H, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có đăng ký hộ khẩu và hiện đang sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh Lý H và chị Dương Thị Thu Th có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự [2]. Về nội dung yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:
Quá trình giải quyết, cả hai bên đều thừa nhận, vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2016, và hai bên sống ly thân đến nay. Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải giữa các bên nhưng anh H đã không tham dự mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, Tòa án đã lập các biên bản không thể tiến hành hòa giải được, điều đó thể hiện hôn nhân giữa chị Th và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th.
[3]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Th có nguyện vọng được được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, hiện tại, chị Th đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng bốn con chung trong thời gian hai vợ chồng sống ly thân, nguyện vọng của con chung cũng là được ở cùng với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử cần tiếp tục giao con chung cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp để tránh làm ảnh hưởng, xáo trộn cuộc sống của cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Th không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Th phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thu Th
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Thu Th được ly hôn với anh Anh Lý H
2. Về con chung: Giao cháu Lý Tiểu B, sinh ngày 30/7/2014 cho chị Dương Thị Thu Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ tròn 18 tuổi) Anh Lý H được quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung, chị Dương Thị Thu Th không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.
Trong trường hợp một bên lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của bên kia thì người bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người vi phạm.
Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng.
3. Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Dương Thị Thu Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005786 ngày 18/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 36/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 36/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đắk Mil - Đăk Nông |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về