TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
BẢN ÁN 35/2024/HNGĐ-ST NGÀY 31/01/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1292/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024.
1. Nguyên đơn: Ông Trần Quốc D, sinh năm 1991; (có mặt) Địa chỉ: ấp Mới 1, xã M, huyện Đ, tỉnh L.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thu Q, sinh năm 1996; (vắng mặt) Địa chỉ: ấp 2, xã M, huyện Đ1, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông Trần Quốc D trình bày:
Ông và bà Q sống với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đ ngày 19/5/2016. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly thân từ tháng 03/2023 cho đến nay. Nên khởi kiện ông xin ly hôn với bà Q.
Về con chung: Ông và bà Q có 02 con chung, tên Trần Hoàng Quốc D, sinh ngày 11/7/2016 và Trần Hà Khả H, sinh ngày 16/6/2020. Khi ly hôn, ông yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Trần Hoàng Quốc H và đồng ý giao con Trần Hà Khả H cho bà Q tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Trong bản tự khai ngày 20 tháng 11 năm 2023 bị đơn bà Nguyễn Thu Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà thống nhất lời trình bày của ông D về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, mâu thuẫn và thời gian ly thân. Nay ông D xin ly hôn thì bà đồng ý.
Về con chung: Bà và ông D có 02 con chung, tên Trần Hoàng Quốc D, sinh ngày 11/7/2016 và Trần Hà Khả H, sinh ngày 16/6/2020. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không có yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Quốc D nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thu Q, địa chỉ tại ấp Mới 1, xã M, huyện Đ, tỉnh L nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An [2] Bị đơn bà Nguyễn Thu Q đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Q.
[4] Xét nội dung yêu cầu của ông Trần Quốc D:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Quốc D và bà Nguyễn Thu Q chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh L vào ngày 19/5/2016 (Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2016) nên hôn nhân giữa ông D và bà Q là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Ông D trình bày trong quá trình chung sống thời gian đầu ông và bà Q chung sống hạnh phúc, đến tháng 3/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau và sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông D xin ly hôn với bà Nguyễn Thu Q. Bà Q trình bày bà đồng ý với ông D về thời điểm kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn, nay ông D yêu cầu ly hôn thì bà đồng ý. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn hôn nhân giữa ông D và bà Q là có thực và đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông D.
[4.2] Về con chung: Ông Trần Quốc D và bà Nguyễn Thu Q thống nhất xác định có 02 con chung, tên Trần Hoàng Quốc D, sinh ngày 11/7/2016 và Trần Hà Khả H, sinh ngày 16/6/2020. Khi ly hôn, ông D yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Trần Hoàng Quốc Duy và đồng ý giao con chung Trần Hà Khả H cho bà Q nuôi dưỡng. Bà Q yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung Trần Hoàng Quốc Duy và Trần Hà Khả H.
Xét thấy, tại phiên tòa ông D trình bày bà Q đã giao con chung Trần Hoàng Quốc Duy cho ông trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Duy tại phiên tòa cũng nguyện vọng sống với ba. Để đảm bảo sự phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần của trẻ cần giao con chung Trần Hoàng Quốc Duy cho ông D nuôi dưỡng và giao cháu Trần Hà Khả H cho bà Q tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Quốc D và bà Nguyễn Thu Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[4.3] Về tài sản chung: Ông Trần Quốc D và bà Nguyễn Thu Q thống nhất xác định không có.
[4.4] Về nợ chung: Ông Trần Quốc D và bà Nguyễn Thu Q thống nhất xác định không có.
[5] Về án phí: Ông Trần Quốc D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 207, Điều 208, Điều 211; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc D.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Quốc D được ly hôn với bà Nguyễn Thu Q.
- Về con chung: Ông Trần Quốc D được quyền nuôi dưỡng con chung Trần Hoàng Quốc D, sinh ngày 11/7/2016 và bà Nguyễn Thu Q được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Hà Khả H, sinh năm 16/6/2020.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung, Tòa án có thể ra quyết định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.
Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Ông Trần Quốc D và bà Nguyễn Thu Q xác định không có.
- Về nợ chung: Ông Trần Quốc D và bà Nguyễn Thu Q xác định không có.
2. Về án phí: Ông Trần Quốc D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005283 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành. Ông D đã nộp đủ. Bà Q không phải chịu án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 35/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 35/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 31/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về