TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
BẢN ÁN 26/2024/HNGĐ-ST NGÀY 19/03/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 259/2023/TLST-HN ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐST – HNGĐ ngày 20 tháng 2 năm 2024; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971;
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Ông Mai Văn H, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Bà T có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông H. Bà và ông H quen nhau, sống chung với nhau năm 2006 và có đăng ký kết hôn vào năm 2006 được UBND xã P (nay là thị trấn P) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2006. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc tuy nhiên đến cuối năm 2020 cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cải vã. Ông H không quan tâm chăm sóc vợ con.
Ông H và bà đã ly thân cách nay khoảng 05, 6 tháng. Từ khi ly thân đến nay ông H không đến thăm con. Cuộc sống hiện nay mạnh ai nấy sống. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên có hàn gắn tình cảm cho vợ chồng bà nhưng không thành.
Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với ông H. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng giữa vợ và chồng cho bà, bà cũng không cấp dưỡng cho ông H.
- Về con chung: trong thơi gian sống chung vơ chồng co con chung tên Mai Thị Thu H1, sinh ngày 19/01/2008, hiện đang ở với bà ở Tiền Giang, khi ly hôn bà yêu cầu nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay bà đang làm công lột hạt điều.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Nợ chung; Không có.
Bị đơn ông Mai Văn H vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và giải quyết đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của đương sự trong quá trình thụ lý và giải quyết nguyên đơn, bị đơn thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình vắng mặt trong những lần tòa mời.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thơm, bà T được ly hôn với ông H; Con chung tên Mai Thị Thu H1, sinh ngày 19/01/2008 bà T trực tiếp nuôi, ông Hải không cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu. Tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyếtnên không xem xét; Nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung vụ án cần giải quyết, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Thẩm quyền giải quyết: Theo xác nhận của Công an thị trấn Phước mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xác nhận ông Mai Văn H hiện có đăng ký thường trú tại thị trấn P, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
Bà Nguyễn Thị T có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T là phù hợp.
Ông Mai Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Hải là phù hợp.
[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Mai Văn H kết hôn vào năm 2006, trên cơ sở quen biết và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện M vào ngày26/12/2006 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T, bà T cho rằng do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cải vã. Ông H không quan tâm chăm sóc vợ con. Ông H và bà đã ly thân cách nay khoảng 05, 6 tháng. Từ khi ly thân đến nay ông H không đến thăm con. Cuộc sống hiện nay mạnh ai nấy sống. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên có hàn gắn tình cảm cho vợ chồng bà nhưng không thành. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với ông H. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mất hạnh phúc giữa bà T vào ông H thì chính quyền địa phương không rõ nhưng cách nay mấy năm thì bà T đã bỏ về Tiền Giang sinh sống.Gia đình của bà T cho rằng giữa bà T vào ông H có mâu thuẫn từ năm 2020, thường xuyên cãi vã, mỗi người một nơi, anh chị có hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Như vậy, giữa bà T và ông H mâu thuẫn là có thật. Ông H đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến để tham gia hòa giải, xét xử nhưng vẵn vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến gì về việc bà T xin ly hôn, chứng tỏ ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Ông bà là vợ chồng nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng, thấy rằng mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã trầm trọng, muïc ñích hoân nhaân giöõa hai anh chò khoâng ñaït ñöôïc ñôøi soáng chung khoâng theå keùo daøi neân chaáp nhaän yeâu caàu của bà T là phù hợp.
[4] Về con chung: Bà T và ông H có 01 con chung tên Mai Thị Thu H1, sinh ngày 19/01/2008, hiện đang sống với bà T. Tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên cháu H1 có nguyện vọng sống với bà T. Xét thấy, Hiện nay cháu H1 đang sống với bà Tm, bà T cũng có điều kiện nuôi cháu nên để đảm bảo về mặt tinh thần và thể chất cho cháu H1 nên Hội đồng xét xử giao cháu H1 cho bà T nuôi là phù hợp. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.
[5] Về tài sản chung: Bà T trình bày không có không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà T trình bày không có nên không xem xét.
[7] Án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí theo qui định là 300.000 đồng.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.
Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Mai Văn H.
2. Về con chung: Bà T trực tiếp nuôi 01 con chung tên Mai Thị Thu H1, sinh ngày 19/01/2008, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84, điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình , Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về nợ chung: Bà T trình bày không có nên không xem xét.
5. Án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002401 ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên không phải nộp thêm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 26/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 26/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Bắc - Bến Tre |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 19/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về