Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 25/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 25/2024/HNGĐ-ST NGÀY 21/06/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 21/6/2024, tại phòng xét xử, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 190/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/4/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/6/2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị  Vũ Thị Thu H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 128C phố C, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn: Anh  Vũ Văn H2, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 141/37 C, khu 6, phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Hiện đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương, địa chỉ: Khu dân cư Cầu Dòng, phường H, thành phố L, tỉnh Hải Dương.

(Chị H1, anh H2 đều vắng mặt, đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn-chị  Vũ Thị Thu H1 trình bày: Chị và anh  Vũ Văn H2 được tự do tìm hiểu và cùng tự nguyện đến Ủy ban nhân dân phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đăng ký kết hôn vào ngày 02/4/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng sống vui vẻ với nhau được khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H2thường xuyên ngược đãi, hành hạ chị, có những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm chị, nhiều lần đe dọa giết chị. Mặc dù, anh H2 đã nhiều lần được gia đình, các ban ngành đoàn thể nhắc nhở nhưng vẫn không sửa đổi. Việc này làm ảnh hưởng đến tâm lý, học tập của chị và các con. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2024 đến nay. Anh chị không thể hòa hợp được nên chị làm đơn xin ly hôn anh Hợi.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Vũ Đình P, sinh ngày 11/02/2004 và Vũ Minh Q, sinh ngày 06/7/2013. Hiện tại cháu Q đang ở với chị, do chị chăm sóc. Cháu P đã trưởng thành nên chị không đề nghị giải quyết. Khi vợ chồng ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi con chung là Vũ Minh Q cho đến khi con thành niên, tự nguyện không yêu cầu anh H2 cấp dưỡng nuôi con Vũ Minh Q.

Lời khai của bị đơn - anh  Vũ Văn H2 thể hiện: Anh xác định việc đăng ký kết hôn như chị H1 trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, hai bên có xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau, bất đồng quan điểm. Đỉnh điểm mâu thuẫn là cuối năm 2023, đầu năm 2024, chị H1 bỏ về nhà mẹ đẻ ở và sinh sống, từ đó đến nay, anh chị sống ly thân. Chị H1 không còn tình cảm với anh, không muốn sống cùng anh nữa nên anh nhất trí ly hôn. Tại buổi hòa giải ngày 05/6/2024, anh H2 trình bày mong muốn chị H1 suy nghĩ lại, đợi anh chấp hành xong 18 tháng cai nghiện ma túy bắt buộc về thì anh sẽ đồng ý ly hôn, còn nay anh không nhất trí vì không muốn ảnh hưởng đến danh dự khi anh đi cai nghiện ma túy. Nếu Tòa án vẫn giải quyết, đưa vụ án ra xét xử thì anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng có hai con chung như chị H1 trình bày là đúng, hiện cháu P đã trên 18 tuổi, đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, cháu Q đang ở với chị H1. Nếu vợ chồng ly hôn, anh nhất trí để chị H1 tiếp tục nuôi cháu Q, cháu P đã trưởng thành, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H1 không yêu cầu anh cấp dưỡng cho con, anh nhất trí.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị H1 và anh H2 không yêu cầu giải quyết.

Lời khai của cháu Vũ Minh Q là con chung của anh chị thể hiện: Bố mẹ cháu sống với nhau không vui vẻ, hiện không sống cùng nhau, cháu đang ở cùng mẹ tại nhà ông, bà ngoại cháu ở phường N, thành phố Hải Dương. Khi bố mẹ cháu ly hôn, chái muốn được tiếp tục ở với mẹ cháu.

Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Chị  Vũ Thị Thu H1 và anh  Vũ Văn H2 là vợ chồng, kết hôn và sinh sống cùng nhà với mẹ anh H2tại địa chỉ số 141/37 C, khu 6, phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Anh H2 là đối tượng nghiện ma túy được quản lý tại địa phương. Quá trình vợ chồng anh chị chung sống có xảy ra mâu thuẫn, cụ thể là gì địa phương không nắm rõ. Anh chị có 02 con chung là Vũ Đình P, sinh năm 2004 và Vũ Minh Q, sinh năm 2013. Từ đầu năm 2024, mẹ con chị H1 không sống cùng anh H2 mà chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị H1 ở phố C, phường N, thành phố Hải Dương. Việc chị H1 xin ly hôn và đề nghị giải quyết nuôi con, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, Chị H1 và anh H2 đều vắng mặt, đề nghị giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, quan điểm về việc giải quyết vụ án. Xác định Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng thời hạn tố tụng, trong quá trình giải quyết xét xử tại phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H1, xử chị  Vũ Thị Thu H1 ly hôn anh  Vũ Văn H2.

Về con chung: Giao con chung là Vũ Minh Q, sinh ngày 06/7/2013 cho chị  Vũ Thị Thu H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H2 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền này. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình hai bên: không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Chị H1 phải chịu án phí sơ thẩm dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị  Vũ Thị Thu H1 khởi kiện về việc ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung với bị đơn là anh  Vũ Văn H2, địa chỉ: Số 141/37 C, khu 6, phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Do đó vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị H1, anh H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh chị đã có quan điểm trình bày và đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị  Vũ Thị Thu H1 và anh  Vũ Văn H2 là tự nguyện, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (là Ủy ban nhân dân phường Ngọc C, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của chị H1 và anh H2là hợp pháp kể từ ngày đăng ký kết hôn (ngày 02/4/2003). Sau khi kết hôn, anh, chị sống cùng nhà với mẹ anh Hợi. Vợ chồng không cùng chung quan điểm, thường xuyên đánh, cãi chửi nhau. Anh H2 nhiều lần xúc phạm danh dự, nhâm phẩm chị. Anh, chị sống ly thân từ tháng 01/2024 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau. Anh H2 thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, cãi chửi nhau, bất đồng quan điểm. Lúc đầu anh nhất trí ly hôn, sau lại thay đổi quan điểm, muốn chị H1 suy nghĩ lại, đợi anh chấp hành xong 18 tháng cai nghiện ma túy bắt buộc về thì anh sẽ đồng ý ly hôn, còn nay anh không nhất trí vì không muốn ảnh hưởng đến danh dự khi anh đi cai nghiện ma túy.

Qua lời khai của đương sự và xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử thấy: Hôn nhân giữa chị H1 và anh H2 không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn sự quan tâm, chia sẻ, tôn trọng nhau, mâu thuẫn đã trở lên trầm trọng, cuộc sống chung của anh chị không thể hàn gắn, đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H2 thay đổi quan điểm không nhất trí ly hôn với lý do không muốn việc ly hôn làm ảnh hưởng đến việc cai nghiện ma túy bắt buộc của anh là cố tình gây khó khăn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị H1, xử cho chị H1 được ly hôn anh H2 là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Chị H1 và anh H2có hai con chung là Vũ Đình P, sinh ngày 11/02/2004 và Vũ Minh Q, sinh ngày 06/7/2013. Cháu P đã trên 18 tuổi, anh, chị không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Cháu Q đang do chị H1 nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết, cháu Q xin ở với chị H1, anh H2 và chị H1 đều đề nghị giao cháu Q cho chị H1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị H1 tự nguyện không yêu cầu anh H2phải cấp dưỡng nuôi con, anh H2 nhất trí.

Hội đồng xét xử thấy: Từ khi vợ chồng sống ly thân, chị H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q, cháu phát triển tốt. Anh chị thống nhất để chị H1 tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q, phù hợp với nguyện vọng của cháu Q. Nên để đảm bảo sự phát triển, giáo dục và chăm sóc con chung được thuận tiện, phù hợp với ý kiến của các bên, HĐXX chấp nhận giao cho chị H1 tiếp tục trực tiếp nuôi con Vũ Minh Q cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H1 tự nguyện không yêu cầu anh H2cấp dưỡng nuôi con, là sự tự nguyện của chị, được chấp nhận, phù hợp quy định tại các điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị H1, anh H2không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn).

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị  Vũ Thị Thu H1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị  Vũ Thị Thu H1 ly hôn anh  Vũ Văn H2.

2. Về quan hệ nuôi con: Giao cho chị  Vũ Thị Thu H1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Vũ Minh Q, sinh ngày 06/7/2013 cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H1 không yêu cầu anh H2phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Anh  Vũ Văn H2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị  Vũ Thị Thu H1 phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn), được đối trừ vào số tiền 300.000đồng chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0003060 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương. Chị H1 đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

104
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 25/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:25/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương - Hải Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về