Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 18/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 18/2024/HNGĐ-ST NGÀY 25/01/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 543/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/11/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 400/2023/QĐXX-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim Q, sinh năm 1989;

Địa chỉ: số 594, ấp G, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.

2.Bị đơn: Anh Lê Anh T, sinh năm: 1987;

Địa chỉ: số 594, ấp G, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Chị Q, anh T vắng mặt, chị Q có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Kim Q trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống phát sinh mẫu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do anh T đánh chị và đuổi chị đi. Vợ chồng không còn không quan tâm, chăm sóc, thương yêu nhau. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn hạnh phúc. Vì vậy, chị xin được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có hai con chung tên Lê Nhật Q, sinh ngày 08/8/2018 và Lê Nhật T, sinh ngày 19/9/2020. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Lê Nhật T và đồng ý để anh T tiếp tục nuôi con chung tên Lê Nhật Q. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con và chị cũng không cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

- Về nợ chung: Không có.

Do bận đi làm nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt chị.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho anh T nhưng anh T đều vắng mặt và cũng không gởi bất kỳ văn bản trình bày ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của chị Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Chị Q thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, anh T chưa thực hiện đầy đủ tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt không lý do.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q. Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Lê Nhật T cho chị Q nuôi, giao con chung tên Lê Nhật Q cho anh T nuôi. Ghi nhận chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T không có ý kiến gì về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nếu sau này anh T có yêu cầu sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên không xem xét, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Chị Q khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, xin được nuôi con chung. Bị đơn anh T cư trú tại xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Q có yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Q và anh T.

[2] Về hôn nhân: Theo bản sao Giấy chứng nhận kết hôn do chị Q cung cấp thể hiện Ủy ban nhân dân xã Phong Nẫm chứng nhận kết hôn cho chị Q và anh T vào ngày 26/4/2016. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T đánh chị, dẫn đến vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện chị Q xác định không còn tình cảm với anh T nên xin được ly hôn.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để tạo điều kiện hàn gắn cho anh chị. Anh T đã được triệu tập họp lệ nhưng không đến tham dự phiên hòa giải và cũng không gởi bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến mong muốn hàn gắn với chị Q nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Qua xác minh tại ấp Giồng Sậy, xã Phong Nẫm, địa phương cung cấp có lần chị Q trình báo việc bị anh T đánh còn lý do vì sao đánh thì địa phương không rõ.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân bền vững phải xuất phát từ sự tự nguyện và tình cảm thương yêu, mong muốn gắng bó từ cả vợ và chồng. Quá trình chung sống, chị Q và anh T phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm đến nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai mong muốn hàn gắn. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Q.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên Lê Nhật Q, sinh ngày 08/8/2018 và Lê Nhật T, sinh ngày 19/9/2020. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Lê Nhật T và đồng ý để anh T tiếp tục nuôi con chung tên Lê Nhật Q là phù hợp. Ghi nhận chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T vắng mặt không có ý kiến gì về cấp dưỡng, nếu sau này có yêu cầu được quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[4] Chị Q trình bày tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Anh T vắng mặt, không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì được quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Chị Q phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim Q, cụ thể tuyên:

[1] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim Q được ly hôn với anh Lê Anh T.

[2] Về con chung: Giao con chung tên Lê Nhật T, sinh ngày 19/9/2020 cho chị Lê Thị Kim Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Giao con chung tên Lê Nhật Q, sinh ngày 08/8/2018 cho anh Lê Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Ghi nhận chị Lê Thị Kim Q, anh Lê Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Chị Lê Thị Kim Q, anh Lê Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp có yêu cầu của một, cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về tài sản chung: tự thỏa thuận, nợ chung: không có.

[4] Về án phí: Chị Lê Thị Kim Q có nghĩa vụ nộp án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002522 ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ghi nhận chị Q đã nộp xong án phí.

[5] Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

95
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 18/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:18/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về