Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 172/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 172/2024/HNGĐ-ST NGÀY 07/08/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường TAND thị xã Điện Bàn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02/5/2024 về việc: “Ly hôn, trA chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 03/7/2024 giữa:

1/Ng đ ơn : Bà Trần Thị A – Sinh năm 1991 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn 8, xã NL, huyện NS, tỉnh Thanh Hóa.

2/Bị đơn: Ông Lê Cao Ng – Sinh năm 1991 (vắng mặt) Địa chỉ: Khối TĐ1, phường ĐP, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ng đơn bà Trần Thị A trình bày: Bà Trần Thị A và ông Lê Cao Ng kết hôn ngày 21/7/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường ĐP, thị xã Điện Bàn, kết hôn trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống hạnh phúc được 6 năm đến giữa năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cải vã nhau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng kéo dài và đã sống ly thân từ tháng 7/2021 đến nay. Bà A không còn tình cảm với ông Ng nên yêu cầu được ly hôn ông Ng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Đức Th - Sinh ngày 06/9/2016. Hiện nay con chung đang sống cùng bà A. Khi ly hôn bà A yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Không có Bị đơn ông Lê Cao Ng đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, giao nhận bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do Ng đơn cung cấp, đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, nên không có lời khai của ông Ng đối với các yêu cầu khởi kiện của bà A.

Tóm tắt ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử được phân công giải quyết và xét xử vụ án đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Ng đơn chấp hành pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.

+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX xử cho bà A được ly hôn ông Ng, giao con Lê Đức Th cho bà A nuôi dưỡng. Bà A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, ông Ng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả trA luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ trA chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà A yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung đối với ông Ng, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS trA chấp ly hôn, con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Ông Ng cư trú tại phường ĐP, thị xã Điện Bàn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, bà Trần Thị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân: Bà A và ông Ng kết hôn lại với nhau vào ngày 21/7/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường ĐP, thị xã Điện Bàn, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông Ng là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà A khai là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cải vả nhau trong cuộc sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được và sống ly thân từ tháng 7/2021 cho đến nay. Bà A không còn tình cảm và không chung sống hơn 3 năm nay, nên bà A yêu cầu được ly hôn ông Ng. Đối với ông Ng trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ng cố tình vắng mặt không có lý do, do đó không có lời khai và yêu cầu của ông Ng đối với việc ly hôn của bà A, không tiến hành được phiên hòa giải để động viên vợ, chồng về đoàn tụ chung sống. Trong trường hợp này xét thấy vợ chồng bà A không còn tình cảm, thực tế hai người không chung sống với nhau nhiều năm nay, mục đích hôn nhân không đạt, yêu cầu ly hôn của bà A có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận cho bà A được ly hôn với ông Ng phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Đức Th - Sinh ngày 06/9/2016. Bà A yêu cầu được nuôi con chung. Xét yêu cầu của bà A thấy rằng: Con chung đã sống cùng bà A từ nhỏ đến nay được bà A chăm sóc, nuôi dưỡng rất tốt, hơn nữa ông Ng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và nêu nguyện vọng được nuôi con để HĐXX xem xét. Do đó để đảm bảo ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho con, cần phải giao con cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 82, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về khoản cấp dưỡng nuôi con, bà A không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Sau khi ly hôn, ông Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: bà A khai không có nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ Luật phí và Lệ phí, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Điều 147 BLTTDS thì bà A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 51, 56, 57,58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị A đối với ông Lê Cao Ng về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị A và ông Lê Cao Ng.

2/ Về quan hệ con chung: Có 01 con chung Giao con Lê Đức Th - Sinh ngày 06/9/2016 cho bà Trần Thị A trực tiếp nuôi dưỡng (Lê Đức Th hiện nay đang sống cùng bà Trần Thị A).

Bà Trần Thị A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, ông Lê Cao Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

3/Về án p hí Bà Trần Thị A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0014489 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Bà Trần Thị A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

100
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 172/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:172/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Điện Bàn - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về