Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 165/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 165/2021/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP VỀ NUÔI CON 

Ngày 30 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn N, xã D, huyện T, thành phố H. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn N, xã D, huyện T, thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2021, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Trần Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thành C kết hôn với nhau từ đầu năm 2006 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, thành phố H. Sau khi kết hôn, chị chuyển khẩu về gia đình anh C sinh sống tại thôn N, xã D. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, năm 2014 chị đã từng nộp đơn đến Tòa án xin ly hôn nhưng anh C hứa sẽ sửa chữa và thay đổi bản thân nên chị rút đơn về tiếp tục chung sống, đến đầu năm 2021 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên căng thẳng trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh C không chăm lo cho vợ con và còn có hành vi đánh đập ngược đãi chị. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên tham gia hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay và không còn quan tâm nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh C, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh C.

- Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh C có hai con chung tên là Nguyễn Văn A sinh ngày 14/12/2006 và Nguyễn Văn B sinh ngày 02/7/2012. Chị trực tiếp nuôi con nhỏ, anh C trực tiếp nuôi con lớn từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay. Khi ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi con nhỏ, để anh C tiếp tục nuôi con lớn; về cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là anh Nguyễn Thành C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh công nhận lời trình bày của chị M về điều kiện, thời gian và nơi đăng ký kết hôn như trên là đúng. Quá trình chung sống đôi khi vợ chồng có mâu thuẫn trục trặc với nhau, lý do là vì kinh tế gia đình. Chị M về ở với chị gái tại xã L, huyện T, thành phố H từ tháng 5 năm 2021, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị M yêu cầu giải quyết ly hôn, anh mong muốn vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn và tình cảm, về đoàn tụ và cùng nhau nuôi dạy các con, anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh công nhận anh và chị M có hai con chung như chị M trình bày là đúng. Anh không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến giải quyết vấn đề ai là người nuôi dưỡng con chung. Nếu phải ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung; về cấp dưỡng nuôi con chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng, đương sự chấp hành đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị M và anh Nguyễn Thành C.

- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị M trực tiếp nuôi con chung tên là Nguyễn Văn B sinh ngày 02/7/2012 và giao cho anh Nguyễn Thành C trực tiếp nuôi con chung tên là Nguyễn Văn A sinh ngày 14/12/2006 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị M và anh Nguyễn Thành C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị Trần Thị M và anh Nguyễn Thành C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị M và anh Nguyễn Thành C đã xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 03 đăng ký ngày 08/01/2007 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, thành phố H). Căn cứ vào lời khai của đương sự và tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và trở nên căng thẳng trầm trọng từ đầu năm 2021, do mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay và không còn quan tâm nhau . Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng chị M vẫn kiên quyết đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh C, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy việc xin ly hôn của chị M với anh C là phù hợp với tình trạng thực tế của vợ chồng, phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[3]. Về con chung: Chị M và anh C có hai con chung tên là Nguyễn Văn A sinh ngày 14/12/2006 và Nguyễn Văn B sinh ngày 02/7/2012. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và xem xét nguyện vọng của con chưa thành niên. Xét thấy, tài liệu điều tra xác minh thể hiện điều kiện nuôi con của chị M và anh C là như nhau; khi ly hôn chị M đề nghị được trực tiếp nuôi con nhỏ, để anh C trực tiếp nuôi con lớn; anh C đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con; tuy nhiên, con tên B có nguyện vọng muốn được ở với mẹ, con tên A có nguyện vọng muốn được ở với bố; thực tế hiện nay cháu B đang ở với mẹ và cháu A đang ở với bố. Vì vậy, giao con tên Nguyễn Văn B cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng và giao con tên Nguyễn Văn A cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M và anh C thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: Chị M và anh C thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[6]. Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị M và anh Nguyễn Thành C.

2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị M trực tiếp nuôi con chung tên là Nguyễn Văn B sinh ngày 02/7/2012 và giao cho anh Nguyễn Thành C trực tiếp nuôi con chung tên là Nguyễn Văn A sinh ngày 14/12/2006 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị M và anh Nguyễn Thành C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về tài sản chung: Chị Trần Thị M và anh Nguyễn Thành C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015960 ngày 22 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, thành phố H. Chị Trần Thị M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Trần Thị M và bị đơn là anh Nguyễn Thành C có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.


31
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 165/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:165/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/08/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về