Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 16/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 16/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/08/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1985 Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1984 Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Trong đơn khởi kiện ngày 04/4/2024, được bổ sung trong bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc. Đăng ký kết hôn ngày 29/3/2012 tại UBND xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 08. Sau khi kết hôn vợ chồng cư trú tại thôn T, xã G, huyện L. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ thường xuyên uống rượu say rồi chửi bới, đánh đập chị nhiều lần. Khi sảy ra mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên động viên, khuyên bảo để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Vì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nên chị và anh Đ đã ly thân từ năm 2017 đến nay, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn. Chị nhận thấy, không thể tiếp tục chung sống cùng anh Đ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị và anh Phạm Văn Đ có 01 con chung là cháu Phạm Minh L, sinh ngày 19/3/2014. Chị đề nghị Tòa án giao cháu L cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự cho anh Phạm Văn Đ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhưng anh Đ không có ý kiến. Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để anh Đ tham gia giải quyết vụ án, nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do.

Toà án đã tiến hành xác minh tại thôn T, xã G, huyện L và thôn L, xã C, huyện N về một số nội dung có liên quan trong vụ án, kết quả xác minh:

Về địa chỉ cư trú và sự có mặt, vắng mặt tại nơi cư trú của bị đơn: Đại diện thôn cho biết, anh Phạm Văn Đ đăng ký thường trú tại thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa, không đăng ký tạm trú ở nơi khác; không khai báo tạm vắng tại nơi cư trú; đến nay anh Đ chưa thay đổi nơi đăng ký thường trú, không bị xóa đăng ký thường trú; hiện tại anh Đ đang làm ăn ở tỉnh Bắc Ninh, nhưng không biết làm công việc gì và địa chỉ cụ thể ở đâu. Thi thoảng anh Đ vẫn về thăm nhà và liên lạc với gia đình bằng điện thoại.

Về nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp: Cách đây khoảng 3 đến 4 năm, giữa chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn Đ phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ hay giao lưu bạn bè, uống rượu say dẫn đến vợ chồng cãi vã, chửi bới lẫn nhau. Do mâu thuẫn ngày càng căng thẳng nên chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn L, xã C, huyện N để ở. Sau khi chị H bỏ đi, anh Đ đã cùng với người thân trong gia đình đến nhà bố mẹ đẻ của chị H để đón chị H về nhưng chị H không về, kể từ đó đến nay vợ chồng ly thân, không ai quan tâm đến ai.

Về con chung và điều kiện nuôi con: Chị H và anh Đ có 01 con chung là cháu Phạm Minh L, sinh ngày 19/3/2014. Kể từ khi chị H và anh Đ ly thân, cháu L ở cùng chị H, cháu vẫn khỏe mạnh, được chăm sóc tốt và được họpc tập đầy đủ. Trường hợp chị H và anh Đ phải ly hôn, đề nghị Tòa án giao cháu L cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt tại phiên tòa mà không có người đại diện tham gia phiên tòa và không có lý do.

Tại phiên toà, Đại diện VKS phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; nơi cư trú của bị đơn tại huyện L, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

[2]. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn là chị Phạm Thị H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Phạm Văn Đ không có yêu cầu phản tố vắng mặt tại phiên tòa mà không có người đại diện tham gia phiên tòa và không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về hôn nhân: Căn cứ lời trình bày của chị Phạm Thị H và bản sao Trích lục kết hôn số 08/TLKH-BS ngày 04/4/2024 do UBND xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa cấp, đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn Đ là hợp pháp.

[4]. Xét yêu cầu ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị H đều có nguyện vọng được ly hôn anh Đ; anh Đ không có ý kiến. Căn cứ lời trình bày của chị H phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương nơi các đương sự cư trú, thì giữa chị H và anh Đ thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ hay tụ tập rượu chè rồi chửi bới, đánh đập chị H. khi mâu thuẫn xảy ra đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả; giữa chị H và anh Đ đã có thời gian dài ly thân nhưng tình cảm không được cải thiện. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H giữ nguyên yêu cầu ly hôn anh Đ; anh Đ không tham gia các phiên hòa giải do Tòa án tổ chức giải quyết mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Như vậy, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh Đ không còn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, quyết định cho chị H được ly hôn anh Đ.

[5]. Về con chung: Căn cứ lời trình bày của chị Phạm Thị H và bản sao Giấy khai sinh của cháu L, đủ cơ sở xác định: Cháu Phạm Minh L, sinh ngày 19/3/2014 là con chung của chị H và anh Đ.

Xét nguyện vọng của chị H, thấy: Chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, nguyện vọng của chị H là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để xem xét. Căn cứ lời trình bày của chị H, kết quả xác minh tại nơi cư trú của các đương sự và ý kiến của cháu L thì cả chị H và anh Đ đều là người có trách nhiệm và yêu thương con cái. Nhưng trong cuộc sống, anh Đ thường xuyên rượu chè say xỉn rồi chửi bới, đánh đập vợ, nếu giao con cho Đ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống tâm lý, tinh thần của các con. Mặt khác, cháu L đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được ở với chị H, trong khi anh Đ không có ý kiến, nguyện vọng về việc nuôi con. Vì vậy, để cháu L được yêu thương, chăm sóc đầy đủ, có điều kiện phát triển một cách tốt nhất; không làm xáo trộn cuộc sống và việc học tập của cháu L, nên giao cháu L cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[6]. Về tài sản: Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Chị Phạm Thị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Phạm Văn Đ.

Về con chung: Giao cháu Phạm Minh L, sinh ngày 19/3/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0006618 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lang Chánh. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn Phạm Thị H và bị đơn Phạm Văn Đ. Chị H, anh Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

109
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 16/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:16/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lang Chánh - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về