Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 151/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 151/2023/HNGĐ-ST NGÀY 26/07/2023 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 138/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Kim Huỳnh N, sinh năm 2000 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã V, huyện N, tỉnh C ..

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn V, sinh năm 1998 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm 5, thị t, huyện P, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 4 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Kim Huỳnh N trình bày:

Về hôn nhân: Bà Kim Huỳnh N và ông Nguyễn Tấn V sống chung với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Viên An Đông, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau vào ngày 04/01/2019 (Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2019). Thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường hay cải vã. Ông V không quan tâm, chăm sóc vợ con. Vợ chồng ngày càng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến ly thân từ tháng 06 năm 2022 đến nay. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng. Nay bà Kim Huỳnh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tấn V.

Về con chung: Quá trình sống chung giữa bà N và ông V có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2019 (Nữ) và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2021 (Nam). Nguyễn Hữu T hiện do bà trực tiếp nuôi dưỡng; Nguyễn Thị Như H do ông Nguyễn Tấn V nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi Nguyễn Hữu T, yêu cầu giao Nguyễn Thị Như H cho ông Nguyễn Tấn V nuôi dưỡng. Bà và ông V không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung, tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Tấn V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông V vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của bà N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Kim Huỳnh N cho bà Kim Huỳnh N được ly hôn với ông Nguyễn Tấn V. Giao con chung tên Nguyễn Thị Như H cho ông Nguyễn Tấn V trực tiếp nuôi dưỡng và Nguyễn Hữu T cho bà Kim Huỳnh N nuôi dưỡng; bà N, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Nội dung tranh chấp giữa bà Kim Huỳnh N với ông Nguyễn Tấn V được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Tấn V là bị đơn có nơi cư trú tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án bà Kim Huỳnh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Tấn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Kim Huỳnh N với ông Nguyễn Tấn V.

[3] Về hôn nhân: Bà Kim Huỳnh N với ông Nguyễn Tấn V sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Viên An Đông, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 03/2019), do đó hôn nhân của bà Kim Huỳnh N với ông Nguyễn Tấn V là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, bà Kim Huỳnh N xác định thời gian sống chung với nhau, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, thường hay cải vã nhau và ông V cũng không quan tâm, chăm sóc đến vợ con nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tấn V. Đối với ông Nguyễn Tấn V, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông V vẫn vắng mặt không lý do, không gì sự kiện bất khả kháng và cũng không cung cấp tài liệu, lời khai và chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của bà N. Hội đồng xét xử nhận thấy, bà N đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với ông V một thời gian dài nhưng ông V không có ý kiến gì. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Kim Huỳnh N với ông Nguyễn Tấn V đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu bà Kim Huỳnh N được ly hôn với ông Nguyễn Tấn V.

[4] Về con chung: Quá trình sống chung bà N và ông V có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2019 (Nữ) và Nguyễn Hữu T, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2021 (Nam). Nguyễn Hữu T hiện do bà trực tiếp nuôi dưỡng; Nguyễn Thị Như H do ông Nguyễn Tấn V nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi Nguyễn Hưu Trí, yêu cầu giao Nguyễn Thị Như H cho ông Nguyễn Tấn V nuôi dưỡng. Bà và ông Trí không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử nhận thấy quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Tấn V không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của bà N. Xét thấy, đến thời điểm xét xử, Nguyễn Hữu T chưa đủ 36 tháng tuổi. Căn cứ quy định tại khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân gia và gia đình " Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi..." nên giao Nguyễn Hữu T cho bà Kim Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với người con chung tên Nguyễn Thị Như H, hiện do ông Nguyễn Tấn V đang nuôi dưỡng, khi ly hôn, bà N yêu cầu giao cho ông V trực tiếp nu ôi dưỡng, ông V cũng không có ý kiến gì. Xét thấy nên tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Thị Như H cho ông Nguyễn Tấn V tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Đối với ông Nguyễn Tấn V nếu sau này có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì ông V có quyền khởi kiện yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Kim Huỳnh N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các 147, 207, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Kim Huỳnh N với ông Nguyễn Tấn V.

2. Về con chung: Giao Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2019 (Nữ) cho ông Nguyễn Tấn V trực tiếp nuôi dưỡng. Giao Nguyễn Hữu T, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2021 (Nam) cho bà Kim Huỳnh N nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình, bà Kim Huỳnh N phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 12 tháng 4 năm 2023, bà Kim Huỳnh N đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0018799 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bà Kim Huỳnh N, ông Nguyễn Tấn V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

78
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 151/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:151/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về