Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 150/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 150/2024/HNGĐ-ST NGÀY 24/05/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 962/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1985. Địa chỉ: I, tổ A, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn T1, sinh năm: 1979. Địa chỉ: I, tổ A, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (bà T, ông T1 vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Trong thời gian đầu kết hôn, vợ chồng sống tương đối hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên gây gỗ, cãi nhau. Vợ chồng đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải đoàn tụ nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn T1.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà và ông T1 có với nhau 02 người con chung là các cháu tên Phạm Tú U, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2013 và Phạm Duy H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2016. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung và tạm thời không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà và ông T1 tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà và ông T1 không có nợ chung.

Theo biên bản lấy lời khai, bị đơn ông Phạm Văn T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với phần trình bày của bà Nguyễn Thị Thu T về quá trình kết hôn và chung sống với nhau nhưng về yêu cầu ly hôn của bà T thì ông không đồng ý.

- Về con chung: Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn giữa ông và bà T thì ông đồng ý giao 02 con chung là cháu Phạm Tú U, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2013 và cháu Phạm Duy H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2016 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tạm thời ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng ông vẫn được quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Ông và bà T tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông và bà T không có nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định; Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông T1; Về con chung: Có 02 con chung là các cháu Phạm Tú U, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2013 và Phạm Duy H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2016. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tạm thời ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung: Các đương sự xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết; Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết; Về án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về tư cách tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Thu T có đơn yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi con với ông Phạm Văn T1, địa chỉ cư trú: 9E, tổ A, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại các điều 28, 35, 39 và 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, bà T được xác định là nguyên đơn, ông T1 được xác định là bị đơn trong vụ án; quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[1.2] Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Văn T1 đã có ý kiến xin được xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông T1 theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 đã đăng ký kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 178 ngày 17 tháng 8 năm 2010 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các điều 9, 11 và 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nay là các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T trình bày bà và ông T1 sống hạnh phúc được thời gian đầu nhưng đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi nhau. Bà và ông T1 đã nhiều lần tìm cách hòa giải nhưng không thành. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1. Tại biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 4 năm 2024, ông T1 xác định quá trình kết hôn và chung sống như bà T trình bày là đúng, nhưng về yêu cầu ly hôn của bà T thì ông không đồng ý. Xét thấy, tại biên bản xác minh ngày 25 tháng 4 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác định không biết về tình trạng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng bà T, ông T1 do các đương sự không trình báo địa phương. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định cho ông T1 nhưng ông T1 có ý kiến xin vắng mặt và cũng không đưa ra được phương án hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Việc này thể hiện ông T1 đã không còn quan tâm và không muốn hàn gắn, hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông T1 và bà T là có thật, trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông T1.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T và ông T1 đều xác định vợ chồng có 02 con chung là các cháu Phạm Tú U, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2013 và Phạm Duy H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2016. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung và tạm thời không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Ông T1 đồng ý đối với toàn bộ ý kiến của bà T trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông bà ly hôn. Xét thấy, các con chung đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được sống chung với bà T. Các đương sự đều thống nhất giao cả 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tạm thời ông T1 không cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tạm thời ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn ông T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Bà T và ông T1 xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Bà T và ông T1 xác định không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên cần chấp nhận.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 68, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ các điều 9, 11, 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Căn cứ các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Luật số: 97/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T đối với bị đơn ông Phạm Văn T1. Bà T được ly hôn với ông T1.

2. Về con chung: Giao cả 02 con chung là các cháu Phạm Tú U, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2013 và Phạm Duy H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2016 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Các đương sự xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0003349 ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa. Bà T đã nộp xong.

6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và các điều 7, 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

53
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 150/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:150/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/05/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về