Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 13/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

BẢN ÁN 13/2024/HNGĐ-ST NGÀY 27/03/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 27 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 80/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Lý Thị C, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Hà Giang.

+ Bị đơn: Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Hà Giang.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần 02 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Lý Thị C trình bày: Chị và anh Đặng Văn Đ lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, sau khi có con đến ngày 28/4/2014 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B. Sau khi kết hôn anh chị sống tại thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Hà Giang. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được 07 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh Đ hay ghen tuông, rượu chè và đánh đập chị. Mâu thuẫn giữa hai anh chị cũng đã được công an và trưởng thôn giải quyết, nhưng anh Đ vẫn không thay đổi nên anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm chăm sóc đến nhau từ ngày 05/3/2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Lý Thị C đã làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân huyện Bắc Quang giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Van Đ.

Về con chung: Chị Lý Thị C khai nhận, quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Đặng Kiến H, sinh ngày 28/3/2011 và cháu Đặng Quang V, sinh ngày 31/10/2013. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc cháu Đặng Kiến H cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi; anh Đặng Văn Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Quang V cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Chị Lý Thị C đề nghị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 10/01/2024 bị đơn anh Đặng Văn Đ trình bày: Anh và chị Lý Thị C tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, sau khi có con đến ngày 28/4/2014 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B. Quá trình chung sống vợ chồng luôn bất đồng về quan điểm sống hay xảy ra cãi nhau sau 07 năm. Từ năm 2021, chị Lý Thị C đi làm ăn xa nhà không quan tâm, không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt và anh chị cũng đã sống ly thân từ đó cho đến nay, mâu thuẫn giữa hai anh chị cũng đã được gia đình đã khuyên giải nhưng tình trạng mâu thuẫn giữa anh chị vẫn không thay đổi. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nay chị C khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, anh Đặng Văn Đ nhất trí và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Về con chung: Anh Đặng Văn Đ khai nhận, quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Đặng Kiến H, sinh ngày 28/3/2011 và cháu Đặng Quang V, sinh ngày 31/10/2013. Khi ly hôn anh Đ có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 con, yêu cầu chị C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Quang V với mức 2.000.000đ/01 tháng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi.

Về tài sản và công nợ chung: Anh Đặng Văn Đ đề nghị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết, Toà án đã thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo quy định. Bị đơn Đặng Văn Đ đã nhận văn bản hợp lệ nhưng cố tình trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ tham gia tố tụng. Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang đã tiến hành lập biên bản làm việc với bà Bàn Thị Đ1 (là mẹ đẻ của anh Đặng Văn Đ) và xác minh tình trạng hôn nhân và điều kiện nuôi con chung tại chính quyền địa phương, đồng thời công khai chứng cứ vụ án tại thôn H, xã H trước sự chứng kiến của Công an xã H cùng bà Đ1 (mẹ đẻ của anh Đặng Văn Đ), để ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa mở lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa mở lần thứ hai nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do. Trong đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Lý Thị C vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, về con chung, chị C đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Kiến H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; anh Đặng Văn Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Quang V cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản, công nợ chung chị Lý Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến tại phiên tòa như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; nguyên đơn chị Lý Thị C đều chấp hành và tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, còn bị đơn anh Đặng Văn Đ đã không tuân thủ và không thực hiện đúng nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử;

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và xử cho chị Lý Thị C được ly hôn anh Đặng Văn Đ.

+ Về con chung: Đề nghị xử giao cho chị Lý Thị C là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Kiến H, sinh ngày 28/3/2011 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; anh Đặng Văn Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Quang V, sinh ngày 31/10/2013 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Xét đơn khởi kiện "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" của chị Lý Thị C được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt, tuy nhiên trước khi mở phiên tòa nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai của nguyên đơn, bị đơn; biên bản xác minh với chính quyền địa phương và biên bản làm việc với bà Bàn Thị Đ1 (là mẹ đẻ của anh Đặng Văn Đ) cho thấy, năm 2010 chị Lý Thị C và anh Đặng Văn Đ lấy nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Do không đủ tuổi cho nên năm 2014 anh chị mới tổ chức đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B theo quy định của pháp luật, do đó cuộc hôn nhân giữa hai anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị sống hạnh phúc được 07 năm đầu, từ năm 2021 phát sinh mâu thuẫn cãi, chửi lẫn nhau, chị c đã đưa cháu Đặng Kiến H về sinh sống bên nhà ngoại tại thôn H, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Chị C và anh Đ cũng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau từ đó cho đến nay. Căn cứ vào bản tự khai của các đương sự, biên bản làm việc với bà Bàn Thị Đ1 (là mẹ đẻ của anh Đặng Văn Đ) và biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, điều kiện nuôi con của chị C, anh Đ tại chính quyền địa phương cùng các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Lý Thị C và anh Đặng Văn Đ đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Lý Thị C được ly hôn anh Đặng Văn Đ.

[4] Về con chung: Tại bản tự khai của các đương sự và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định được chị Lý Thị C và anh Đặng Văn Đ có 02 con chung là cháu Đặng Kiến H, sinh ngày 28/3/2011 và cháu Đặng Quang V, sinh ngày 31/10/2013. Quá trình giải quyết các đương sự không thỏa thuận được về việc nuôi con chung. Chị C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Kiến H và giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Quang V, không yêu cầu cấp dưỡng. Anh Đặng Văn Đ đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu và yêu cầu chị C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Quang V với mức 2.000.000đ/01 tháng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi. Trên cơ sở yêu cầu của cả hai bên đương sự cùng các tài liệu chứng cứ Toà án đã thu thập về điều kiện nuôi con, Hội đồng xét xử thấy rằng, cả hai anh chị đều làm nghề lao động tự do, có điều kiện ngang nhau kể từ khi anh chị sống ly thân năm 2021 cho đến nay, chị Lý Thị C vẫn đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đặng Kiến H, sinh ngày 28/3/2011 và sinh sống bên nhà ngoại tại thôn H, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; còn cháu Đặng Quang V, sinh ngày 31/10/2013, vẫn đang sinh sống cùng anh Đặng Văn Đ và ông bà nội tại thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Hà Giang; đồng thời trong biên bản lấy lời khai của 02 cháu, nguyện vọng của cháu Đặng Kiến H đề nghị được ở với mẹ và nguyện vọng của cháu Đặng Quang V đề nghị được ở với bố, xét thấy nguyện vọng của hai cháu phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, để đảm bảo về mặt tâm sinh lý và quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần áp dụng khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao cho chị Lý Thị C là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Kiến H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Đặng Văn Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Quang V cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản, công nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Lý Thị C phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điềm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 và các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lý Thị C, xử cho chị Lý Thị C được ly hôn anh Đặng Văn Đ.

Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Xử giao cho chị Lý Thị C là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Kiến H, sinh ngày 28/3/2011 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn Đ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Quang V, sinh ngày 31/10/2013 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Đ, chị C không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con; cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con. Vì quyền lợi của con chung chị Lý Thị C, anh Đặng Văn Đ có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Lý Thị C phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang theo biên lai số 0003326, ngày 30 tháng 10 năm 2023.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

118
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 13/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:13/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bắc Quang - Hà Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về