Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 109/2021/HNGĐ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH THANH HOÁ 

BẢN ÁN 109 /2021/HNGĐ  NGÀY 30/09/2021  VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày  30  tháng  9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân Hện Cẩm Thuỷ,  xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2021/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 05 năm 2021 về  tranh  chấp“Ly  hôn  và  nuôi  con”  theo  quyết  định  đưa  vụ  án  ra  xét  xử  số  29/2021/QĐXX- ST, ngày 17 tháng 9 năm 2021.

1.  Nguyên đơn: Chị  Đoàn Thị S - sinh năm 1994  Nơi ĐKDDKHKTT: Tổ dân phố Đ thị Trấn Ph, Hện C Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã K, Hện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Ván H - sinh năm 1992  Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị Trấn Ph, Hện C  Có đơn xin xử vắng mặt .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20/4/2021 và bản tự khai , đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn, chị S trình bày:  Chị và anh H kết hôn với nhau ngày 29/5/2016. Hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, hai bên có tổ chức lễ cưới, sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình anh H, cuộc sống vợ chồng   hòa thuận, hạnh phúc, đến ngày 07/12/2016 chị sinh con. Sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng súc phạm nhau nhiệu lần, xong cũng bỏ qua cho nhau nhiều lần nhưng tình cảm vẫn không cải thiện mà mâu thuẫn ngày một trầm trọng hơn. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân Hện C giải quyết cho chị được ly hôn anh  H.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung, Trần Đoàn An   Nh, sinh ngày  07/12/2016. Nay ly hôn chị đề nghị giao con chung cho chị nuôi dưỡng,  không  đề nghị  anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, công nợ: Vợ chồng không có.

Bị đơn tại bản tự khai đơn xin xử vắng mặt anh H trình bày: Anh và chị S kết hôn với nhau ngày 29/5/2016. Hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Kim Hoa, Hện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, hai bên có tổ chức lễ cưới vào tháng 6/2016, sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình anh, cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, đến ngày 07/12/2016 chị sinh con. Sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng súc phạm nhiều lần nên chị S làm đơn ly hôn gửi Tòa án sau đó đưa con về quê sống  ly thân . Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nên chị S không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết do dịch bênh Covid nên chị S không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết. Sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh làm đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh tại phiên tòa.

Về  con  chung:  Vợ  chồng  có  một  con  chung,  Trần  Đoàn  An    Nh,  sinh  ngày  07/12/2016. Nay ly hôn anh nhất trí   giao con chung cho chị S nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh không  phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa do nguyên đơn, bị đơn đều xin vắng mặt tại phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa cho công bố toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện C phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã có bản tự khai trình bày và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 và  Điều 81, 82, 83 – Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 4 Điều 147, Điều 227,  228, 238, 273 – BLTTDS. Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết  326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của Nguyên đơn, xử cho chị S được ly hôn anh H.

Về con chung: Ghi nhận việc thỏa thuận giao cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng không có.

Về án phí: Chị S phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Chị S làm đơn xin ly hôn đối với bị đơn anh Trần Ván H có hộ khẩu tại tổ dân phố Đại Quang, thị trấn phong Sơn, Hện C, tỉnh Thanh Hóa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Hện C, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, tiến hành xét xử vắng mặt Nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều  227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về hôn nhân: Chị S anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện  K, Hà Tĩnh nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến bất đồng, hai bên đã có một thời gian sống ly thân. Nay chị S làm đơn ly hôn, anh H nhất trí.

Xét mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày một trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đã sống ly thân nhau một thời gian dài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 – Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị S được ly hôn anh H.

[4] Về con chung: Vợ chồng có một con chung, Trần Đoàn An   Nh, sinh ngày  17/12/2016. Nay ly hôn hai bên thỏa thuận  giao con chung cho chị S nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh  H không  phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét việc thỏa thuận của hai bên là phù hợp.

[5] Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có.

[6] Về án phí:  Chị S phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  Căn cứ vào Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83  - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, 228 và Điều 238; 273 Bộ luật tố   tụng  dân  sự;  điểm  a  khoản  1  Điều  24;  điểm  a  khoản  5  Điều  27  Nghị  quyết  326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị S được ly hôn anh Trần Ván H.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Đoàn An  Nh, sinh ngày 07/12/2016. Nay ghi nhận việc thỏa thuận giao cháu An  Nh cho chị S nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh H không  phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm.

Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có.

Về án phí:  Chị S phải chịu 300.000đ án phí DSST được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/00010236, ngày 11/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Hện C.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 9 Luật thi hành án dân sư, thời hiệu thi hành án được thi hành án được thực hiện hiện theo quy định tại điều 30 – Luật thi hành án dân sự


75
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 109/2021/HNGĐ

Số hiệu:109/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Thủy - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/09/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về