TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
BẢN ÁN 09/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/03/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nông Thị N, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Võ T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần 02 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Nông Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Võ T kết hôn Trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức đăng ký ngày 08/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang và được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình nhà chồng tại thôn Đ, xã Đ, huyện B. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, mỗi khi đi uống rượu say về anh T lại chửi bới, thậm chí đã nhiều lần đánh chị, lần đánh gần nhất là ngày 02/9/2023. Mâu thuẫn giữa hai anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không cải thiện được, chính vì vậy anh chị đã sống ly thân từ tháng 9/2023 cho đến nay. Xét thấy cuộc sống chung ngày căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, không hạnh phúc nên chị có đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân huyện Bắc Quang giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Võ T.
Về con chung: Chị Nông Thị N khai nhận, quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Thu U, sinh ngày 24/10/2016. Khi ly hôn anh Nguyễn Võ T là trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc cháu Nguyễn Thu U cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Nông Thị N khai nhận không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.
Đối với bị đơn Nguyễn Võ T: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án do anh Nguyễn Võ T làm nghề lao động tự do thường xuyên vắng nhà thỉnh thoảng mới về, nên các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho bị đơn đều được giao cho bà Vũ Thị T1 (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Võ T) nhận thay.
Tại biên bản làm việc ngày 18/01/2024, bà Vũ Thị T1 (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Võ T), trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang cho biết: Năm 2016 con trai bà là Nguyễn Võ T có xây dựng gia đình với chị Nông Thị N, sinh năm 1997 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới chị N về làm dâu sống chung cùng gia đình nhà chồng tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang. Quá trình chung sống tại gia đình nhà chồng anh T chị N sống hạnh phúc và có 01 con chung, tuy nhiên trong cuộc sống chung hằng ngày anh chị cũng có những bất đồng về quan điểm sống, đôi lúc cũng có xảy ra cãi chửi nhau. Do đó tình cảm vợ chồng giữa chị N anh T có những rạn nứt xảy ra không tìm được tiếng nói chung. Chính vì vậy từ ngày 02/9/2023 chị Nông Thị N đã làm đơn xin ly hôn với anh T, đồng thời chị N đi làm ăn tại Hải Dương còn anh Nguyễn Võ T đi làm ăn ở Hà Nội và sống ly thân từ đó đến nay. Việc chị Nông Thị N làm đơn ly hôn, con trai bà là anh Nguyễn Võ T cũng biết, nguyện vọng của con trai bà mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ, nhưng do chị N kiên quyết ly hôn thì con trai bà cũng nhất trí ly hôn. Về con chung: Bà Vũ Thị T1 xác nhận anh Nguyễn Võ T và chị Nông Thị N có 01 con chung là cháu Nguyễn Thu U, sinh ngày 24/10/2016, quan điểm của bà việc giao con cho ai là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục do chị N anh T tự quyết định, về tài sản chung: Quá trình anh T chị N lấy nhau vẫn chung sống với gia đình nhà bà nên không có tài sản chung.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo đơn khởi kiện của chị Nông Thị N. Bị đơn Nguyễn Võ T, cố tình trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn khi có thông báo và giấy triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và điều kiện nuôi con chung tại chính quyền địa phương và mẹ đẻ của bị đơn để ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa mở lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa mở lần thứ hai nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không có lý do. Trong đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Nông Thị N vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, về con chung, chị N đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Thu U, không yêu cầu anh Nguyễn Võ T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, công nợ chung chị Nông Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến tại phiên tòa như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; nguyên đơn chị Nông Thị N đều chấp hành và tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, còn bị đơn anh Nguyễn Võ T đã không tuân thủ và không thực hiện đúng nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và xử cho chị Nông Thị N được ly hôn anh Nguyễn Võ T.
+ Về con chung: Đề nghị xử giao cho chị Nông Thị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thu U, sinh ngày 24/10/2016 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Võ T không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị Nông Thị N khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, đối với bị đơn Nguyễn Võ T, nơi cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang theo quy định tại tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điềm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt, tuy nhiên trước khi mở phiên tòa nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai của nguyên đơn và các biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, biên bản làm việc với bà Vũ Thị T1 (là mẹ đẻ của bị đơn) cho thấy, chị Nông Thị N và anh Nguyễn Võ T kết hôn năm 2016 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó cuộc hôn nhân giữa hai anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc và có 01 con chung, sau một thời gian đã xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, đã xảy ra cãi chửi nhau, tình cảm vợ chồng giữa chị N anh T có những rạn nứt xảy ra không tìm được tiếng nói chung. Chính vì vậy, ngày 02/9/2023 chị Nông Thị N đã làm đơn xin ly hôn với anh T, đồng thời chị N đi làm ăn tại Hải Dương còn anh Nguyễn Võ T đi làm ăn ở Hà Nội, anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Căn cứ các chứng cứ tài liệu đã thu thập từ bà Vũ Thị T1 (là mẹ đẻ của bị đơn); biên bản làm việc tại chính quyền địa phương về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng có trong hồ sơ vụ án, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Nông Thị N và anh Nguyễn Võ T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quan điểm của chị Nông Thị N trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị giải quyết cho được ly hôn, do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nông Thị N được ly hôn anh Nguyễn Võ T.
[4] Về con chung: Trên cơ sở lời khai của nguyên đơn và phần trình bày của bà Vũ Thị T1 (là mẹ đẻ của bị đơn) cùng tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định được chị Nông Thị N và anh Nguyễn Võ T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thu U, sinh ngày 24/10/2016. Quan điểm của chị Nông Thị N, trong đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai chị có nguyện vọng giao con chung cho anh Nguyễn Võ T là trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, quá trình giải quyết anh T biết việc Toà án thụ lý và đang giải quyết vụ kiện xin ly hôn theo yêu cầu của chị Nông Thị N nhưng anh Nguyễn Võ T vẫn cố tình trốn tránh và không có mặt theo văn bản tố tụng của Toà án. Vì vậy, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị Nông Thị N thay đổi quan điểm đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu U cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Trên cơ sở yêu cầu của nguyên đơn và nguyện vọng của cháu Nguyễn Thu U về việc đề nghị được ở với mẹ, Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay anh Nguyễn Võ T thường xuyên vắng nhà, không có thời gian chăm sóc con chung, đồng thời cháu Nguyễn Thu U còn nhỏ và là con gái, nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, để đảm bảo về mặt tâm sinh lý và quyền lợi về mọi mặt của con, cần áp dụng khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao cho chị Nông Thị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu U cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Võ T không phải cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản, công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Nông Thị N phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 và các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nông Thị N, xử cho chị Nông Thị N được ly hôn anh Nguyễn Võ T.
Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Xử giao cho chị Nông Thị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thu U, sinh ngày 24/10/2016 cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Võ T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con; cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con. Vì quyền lợi của con chung chị Nông Thị N, anh Nguyễn Võ T có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nông Thị N phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang theo biên lai số 0003299, ngày 05 tháng 10 năm 2023.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 09/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 09/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bắc Quang - Hà Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về