TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐB, TỈNH ĐIỆN BIÊN
BẢN ÁN 06/2023/HNGĐ-ST NGÀY 30/11/2023 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 30/11/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2023/TLST – HNGĐ ngày 16/10/2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXX - ST ngày 15/11/2023; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị L – Sinh năm 2000 "vắng mặt".
Trú tại: Bản L K, xã P L, huyện T C, tỉnh Điện Biên.
2. Bị đơn: Anh Lường Văn K, sinh năm 1998 “vắng mặt”. NĐKHKTT: Bản N D, xã H M, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
Hiện nay: Đang chấp hành án tại đội 25, phân trại 01, trại giam Yên Hạ, Cục C10 Bộ Công an.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 05/10/2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Đ B, chị Lò Thị L (nguyên đơn) trình bày:
1. Về hôn nhân: Tôi và anh Kỳ sống như vợ chồng từ tháng 10 năm 2017, nhưng đến ngày 22/8/2018 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã H M, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc đến tháng 10 năm 2020 tôi đã bỏ về nhà sống chung với bố mẹ đẻ. Đến tháng 7 năm 2021 thì chồng tôi vi phạm pháp luật về tội “Mua bán trái phép các chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 20 năm tù. Hiện nay đang chấp hành án tại đội 25, phân trại 01, trại giam Yên Hạ, Cục C10 Bộ Công an. Do trước đây tôi và anh Kỳ cũng đã sống ly thân, bản thân tôi cũng mong muốn có cuộc sống tự do trong hôn nhân, nên tôi làm đơn này xin được đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Kỳ.
2. Về con chung:
Chị Loan khai vợ chồng có 01 con chung là Lường Bá L, sinh ngày 15/6/2018.
Chị Loan có nguyện vọng là muốn được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3.Về tài sản:
Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 20/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án anh Lường Văn K (bị đơn) trình bày:
1. Về hôn nhân: Tôi và cô Loan lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H M, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Chúng tôi kết hôn tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống hai vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì sống ly thân. Do tôi vi phạm pháp luật và bị xử phạt mức án 20 năm tù, nay cô Loan làm đơn xin ly hôn, tôi cũng đồng ý ly hôn.
2. Về con chung: Anh Kỳ công nhận vợ chồng có 01 con chung là Lường Bá L, sinh ngày 15/6/2018 và đồng ý cho chị Loan chăm sóc, giáo dục.
Về tài sản: Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương, tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Loan phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Chị Loan đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0000115 ngày 16/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật:
Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn chị Lò Thị L, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
[2].Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Loan xin ly hôn với anh Kỳ, anh Kỳ có hộ khẩu thường trú tại xã H M, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ B theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39/BLTTDS.
[3]. Về điều luật áp dụng: Chị Loan và anh Kỳ kết hôn năm 2018, đến năm 2023 thì chị Loan khởi kiện xin ly hôn, nên Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị L và anh Lường Văn K lấy nhau có đăng ký kết hôn. Do vậy, hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Quá trình chung sống do anh Kỳ vi phạm pháp luật và đang chấp hành án với mức án tù 20 năm, chị Loan thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đã làm đơn xin ly hôn, anh Kỳ cũng đồng ý ly hôn. Việc thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ phù hợp Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về con chung: Hai vợ chồng có 01 con chung là Lường Bá L, sinh ngày 15/6/2018. Chị Loan có nguyện vọng là muốn được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét.
[6].Về tài sản:
[6.1]. Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. [6.2]. Tài sản chung, diện tích ruộng, nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7]. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Loan phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Chị Loan đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0000115 ngày 16/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.
[8]. Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa: Sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, vì các lý do khác nhau nên nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 228/BLTTDS và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 235, Điều 264 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
1. Tuyên xử: Cho chị Lò Thị L được ly hôn với anh Lường Văn K.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Loan và giao con chung là Lường Bá L, sinh ngày 15/6/2018 cho chị Loan trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác.
Chấp nhận yêu cầu của chị Loan về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về Tài sản: Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Loan phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Chị Loan đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0000115 ngày 16/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B, chị Loan đã nộp đủ tiền án phí DSST.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Khoản 1 Điều 273/BLTTDS; Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 06/2023/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 06/2023/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 30/11/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về