TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
BẢN ÁN 02/2024/HNGĐ-ST NGÀY 05/02/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vi Thị L, sinh năm 1985 – có đơn xin xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Bon ĐN, xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông.
- Bị đơn: Anh Hồ S, sinh năm 1978 – vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Địa chỉ: Bon ĐN, xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Vi Thị L trình bày: Chị Vi Thị L kết hôn với anh Hồ S năm 2003, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nguyên nhân là do hai vợ chồng có nhiều khác biệt về quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, anh S sống không có trách nhiệm với vợ con và phạm tội với chính con đẻ của mình nên bị xử phạt 20 năm tù, đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức, Cục C10 Bộ Công an tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Do mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết, tình cảm với anh S không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức giải quyết cho ly hôn với anh S.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là cháu Hồ Vũ Vân A, sinh ngày 15/4/2005; Hồ Vũ Đình H, sinh ngày 14/11/2007 và Hồ Vũ Đình N, sinh ngày 22/3/2015, hiện các con chung đang sinh sống cùng chị L. Chị L đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn anh Hồ S nhưng anh Hồ S từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án, từ chối làm việc với Tòa án về nội dung khởi kiện của chị L nên anh Hồ S vắng mặt trong các buổi làm việc của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, kể cả phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức phát biểu ý kiến:
Toà án nhân dân huyện Tuy Đức thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng và thu thập chứng cứ: Toà án xác định đúng người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng đúng quy định, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn anh Hồ S vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Hồ S là phù hợp.
Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L, cho chị Vi Thị L được ly hôn với anh Hồ S.
Về con chung: Đề nghị giao cháu Hồ Vũ Vân A, sinh ngày 15/4/2005; Hồ Vũ Đình H, sinh ngày 14/11/2007 và Hồ Vũ Đình N, sinh ngày 22/3/2015 cho chị Vi Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001107 ngày 11/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết vào quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Vi Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hồ S có nơi cư trú tại Bon ĐN, xã QT, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông do đó đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của chị L với anh S, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 25/12/2003, chị Vi Thị L và anh Hồ S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh S là hợp pháp.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh S đã tồn tại mâu thuẫn kéo dài, chị L cho rằng cuộc sống chung xảy ra nhiều mâu thuẫn, do tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh S sống thiếu trách nhiệm với vợ con, phạm tội với chính con gái ruột của mình và đang phải chấp hành án phạt tù. Chị L khẳng định hiện nay không còn tình cảm và không còn quan tâm đến anh S nên đề nghị giải quyết ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, anh S không đồng ý ly hôn đồng thời từ chối nhận văn bản tố tụng và từ chối làm việc với Tòa án, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét yêu cầu, nguyện vọng của anh S. Hội đồng xét xử xét thấy, với thực trạng hôn nhân nói trên cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh S đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị L với anh S là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị Vi Thị L có nguyện vọng được nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành, anh S không đồng ý ly hôn và hiện tại đang phải chấp hành án phạt tù nên khi giải quyết ly hôn giữa chị L và anh S cần giao các con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vi Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vi Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị L được ly hôn với anh Hồ S.
2. Về con chung: Giao cháu Hồ Vũ Vân A, sinh ngày 15/4/2005; Hồ Vũ Đình H, sinh ngày 14/11/2007 và Hồ Vũ Đình N, sinh ngày 22/3/2015 cho chị Vi Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Anh Hồ S có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai có quyền ngăn cản. Nếu anh S lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con là chị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh S.
Chị Vi Thị L, anh Hồ S có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng khi cần thiết.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
4. Về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 0001107 ngày 11/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 02/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 02/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tuy Đức - Đăk Nông |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 05/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về