TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 71/2024/HNGĐ-ST NGÀY 11/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 219/2024/TLST-HNGD ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Thạch Văn T, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1998. Địa chỉ: số D, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, còn bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 5 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn anh Thạch Văn T trình bày:
1. Về hôn nhân: Anh Thạch Văn T và chị Nguyễn Thị D sau một thời gian quen biết, tìm hiểu đã quyết định tổ chức lễ cưới vào ngày 26 tháng 6 năm 2016. Sau khi tổ chức đám cưới, vợ chồng anh T và chị D sống hạnh phúc, hòa thuận với nhau. Đến năm 2023, anh T và chị D đã đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và được UBND xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 42 vào ngày 05/4/2023. Đến khoảng cuối năm 2023, anh T và chị D phát sinh mâu thuẫn. Anh T và chị D bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tin tưởng nhau, mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện nhưng vẫn không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn như trước đây nên tình cảm vợ chồng không còn nữa. Anh T và chị D đã ly thân từ cuối năm 2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T yêu cầu xin ly hôn với chị D.
2. Về con chung: Anh T và chị D có 02 (hai) con chung gồm: Thạch Thị Thảo V, sinh ngày 20/9/2016 và Thạch Quang K, sinh ngày 01/8/2019. Cả 02 (hai) con chung đang sống cùng với anh T. Anh T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là Thạch Thị Thảo V và Thạch Quang K. Anh T không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Anh T và chị D tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị D trình bày tại bản trình bày ý kiến như sau:
Chị D thống nhất theo đơn xin ly hôn của anh T và đồng ý ly hôn theo như yêu cầu của anh T. Về con chung: Chị D và anh T có 02 con chung tên Thạch Thị Thảo V, sinh ngày 20/9/2016 và Thạch Quang K, sinh ngày 01/8/2019, hiện cả hai con đang do anh T nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị D đồng ý giao hai con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị D không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bận công việc nên chị D đề nghị cho chị D được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc của Tòa án và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Anh Thạch Văn T có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị D, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ngoài ra không có yêu cầu nào khác nên quan hệ tranh chấp được xác định là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" và bị đơn cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là chị Nguyễn Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt đối với chị D.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về hôn nhân: Anh Thạch Văn T và chị Nguyễn Thị D tổ chức đám cưới vào năm 2016, đến năm 2023, đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 42 vào ngày 05/4/2023 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị D là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Theo anh T trình bày thì vợ chồng sống chung hạnh phúc được đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn và sống xa nhau cho đến nay. Từ khi vợ chồng sống xa nhau đến nay không đoàn tụ được mà mạnh ai người đó sống, không ai quan tâm đến ai nên nay anh T nhất quyết yêu cầu được ly hôn với chị D để ổn định cuộc sống. Trong quá trình giải quyết vụ án chị D có văn bản trình bày ý kiến là đồng ý ly hôn theo như yêu cầu của anh T.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa anh T và chị D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Thạch Văn T và xử cho Thạch Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị D.
[2.2] Về con chung: Quá trình sống chung anh Thạch Văn T và chị Nguyễn Thị D có 02 con chung tên Thạch Thị Thảo V, sinh ngày 20/9/2016 và Thạch Quang K, sinh ngày 01/8/2019. Con hiện nay đang do anh T nuôi dưỡng. Nay anh T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Chị D cũng có văn bản đồng ý giao con cho anh T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con chung tên Thạch Thị Thảo V, sinh ngày 20/9/2016 và Thạch Quang K, sinh ngày 01/8/2019 cho anh T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Anh T khẳng định không yêu cầu Tòa án giải quyết mà để vợ chồng tự thỏa thuận. Còn chị D cũng có văn bản trình bày ý kiến thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Anh T khẳng định vợ chồng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn chị D cũng có văn bản trình bày ý kiến thống nhất vợ chồng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000đ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho anh Thạch Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị D.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Thạch Thị Thảo V, sinh ngày 20/9/2016 và Thạch Quang K, sinh ngày 01/8/2019 cho anh Thạch Văn T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Anh Thạch Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà anh T đã nộp theo biên lai số 0007584 ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
6. Trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án hôm nay đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 71/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 71/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lấp Vò - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 11/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về