TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 70/2024/HNGĐ-ST NGÀY 11/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST-HNGD ngày 04 tháng 6 năm 2024 về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 147/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Trúc L, sinh năm 1989; Hộ khẩu thường trú: số B, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ liên hệ: Số D, đường S, phường T, thành phố T, Thành phố H.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số B, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, còn bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 4 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị Trúc L trình bày:
1. Về hôn nhân: Vào tháng 6 năm 2010, chị L và anh T được hai bên gia đình tổ chức đám cưới trên cơ sở tự nguyện. Đến năm 2011, thì đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận kết hôn số 122 vào ngày 24/05/2011. Vợ chồng sống chung hạnh phúc với nhau được hơn một năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không lo tu chí làm ăn để lo cho gia đình mà ngược lại thường xuyên uống rượu, bia khi say lại còn đánh chị L. Sự việc được hai bên gia đình khuyên giải và do còn thương anh T nên chị L vẫn bỏ qua nhưng anh T không sửa đổi, tính nào tật nấy. Đến cuối năm 2020, thì vợ chồng thật sự sống xa nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu xin ly hôn với anh T.
2. Về con chung: Quá trình sống chung chị L và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Minh K, sinh ngày 11/8/2010. Từ khi vợ chồng xa nhau con chung do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, chị L khẳng định đủ điều kiện để nuôi con nên chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ anh T để tham gia phiên hòa giải nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị Trúc L có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T, yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung ngoài ra không còn yêu cầu nào khác nên quan hệ tranh chấp được xác định là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" và bị đơn cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt đối với anh T.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn T tổ chức đám cưới vào tháng 6 năm 2010 trên cơ sở tự nguyện. Đến năm 2011 thì đăng ký kết hôn và được tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận kết hôn số 122 vào ngày 24/5/2011 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Theo chị L trình bày thì vợ chồng sống chung hạnh phúc được hơn một năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không lo tu chí làm ăn để lo cho gia đình mà ngược lại anh T thường xuyên uống rượu, bia khi say lại còn đánh chị L. Đến cuối năm 2020, thì vợ chồng thật sự sống xa nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa chị L nhất quyết yêu cầu được ly hôn với anh T không đồng ý đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L. Như vậy, việc vắng mặt của anh T được xem là từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình và bỏ mặc cho cuộc hôn nhân này không mong muốn Tòa án hòa giải để đoàn tụ.
Như vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Trúc L đối với anh Nguyễn Văn T.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống theo chị L trình bày thì vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Minh K, sinh ngày 11/8/2010. Từ khi chị L và anh T sống xa nhau con chung do chị L nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Còn anh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với con chung. Tuy nhiên, xét cháu K đã sống chung với chị L từ khi chị L và anh T sống xa nhau cho đến nay. Nhằm để ổn định cuộc sống cho cháu K và cháu K cũng có nguyện vọng được sống với chị L nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu K cho chị L được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Còn anh T không có văn bản trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn anh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.5] Về nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn anh T cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000đ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Trúc L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phạm Minh K, sinh ngày 11/8/2010 cho chị Phạm Thị Trúc L được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, chị Phạm Thị Trúc L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở và anh T không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con của chị L.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
6. Về án phí: Chị Phạm Thị Trúc L1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị L1 đã nộp theo biên lai số 0007454 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
7. Trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án hôm nay đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo. Riêng đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 70/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 70/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lấp Vò - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 11/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về