Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 68/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LC, TỈNH LC

BẢN ÁN 68/2024/HNGĐ-ST NGÀY 08/10/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 08 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố LC, tỉnh LC, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H - Sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Nơi đăng ký thường trú: Thôn Bắc Ngầm, xã XQ, huyện B, tỉnh LC. Nơi ở: Số nhà 262, đường Xuân Diệu, tổ 09, phường Kim Tân, thành phố LC, tỉnh LC.

2. Bị đơn: Anh Cao Văn T - Sinh năm 1988.

Địa chỉ: Nơi đăng ký thường trú: Thôn Bắc Ngầm, xã XQ, huyện B, tỉnh LC. Nơi ở: Thôn 02, xã Đồng Tuyển, thành phố LC, tỉnh LC.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 11 tháng 7 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Cao Văn T có đăng ký kết hôn ngày 07/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện B, tỉnh LC trên cơ sở tự nguyện. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2017 gia đình chuyển lên thành phố L sinh sống và làm việc thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Cao Văn T hay uống rượu về chửi và đánh đập vợ con, có hành vi bạo lực gia đình, khiến cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình và bạn bè hai bên hòa giải nhiều lần, nhưng không thành. Tháng 01/2024 chị Trần Thị H đã có đơn xin ly hôn với anh Cao Văn T. Tuy nhiên sau đó chị Trần Thị H đã rút đơn khởi kiện cho anh Cao Văn T cơ hội thay đổi. Nhưng sau đó, tình cảm vợ chồng không thay đổi được, từ tháng 5/2024 chị Trần Thị H và anh Cao Văn T đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi. Đến nay chị Trần Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố LC giải quyết cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Cao Văn T.

Về con chung: Chị Trần Thị H và anh Cao Văn T có 02 con chung là cháu Cao Kim N, sinh ngày 26/3/2015 và cháu Cao Phương A, sinh ngày 26/2/2020. Khi ly hôn chị Trần Thị H đề nghị Tòa án giải quyết, giao cháu Cao Kim N cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao cháu Cao Phương A cho anh Cao Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Chị Trần Thị H và anh Cao Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nội dung bị đơn khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Cao Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Văn T thừa nhận việc anh và chị Trần Thị H tự nguyện kết hôn, thời điểm kết hôn và nơi kết hôn như chị Trần Thị H trình bày là đúng. Anh Cao Văn T xác định, trong quá trình chung sống, anh Cao Văn T và chị Trần Thị H có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi nhau và có xảy ra xô xát. Tuy nhiên anh Cao Văn T thấy rằng mâu thuẫn giữa anh và chị Trần Thị H không đến mức phải ly hôn. Đến nay chị Trần Thị H có đơn xin ly hôn, quan điểm của anh Cao Văn T không đồng ý vì anh Cao Văn T vẫn còn tình cảm với chị Trần Thị H.

Về con chung: Anh Cao Văn T và chị Trần Thị H có 02 con chung là cháu Cao Kim N, sinh ngày 26/3/2015 và cháu Cao Phương A, sinh ngày 26/2/2020. Nếu chị Trần Thị H kiên quyết xin ly hôn, anh Cao Văn T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Cao Văn T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Anh Cao Văn T không yêu cầu chị Trần Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Cao Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà ngày 08 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn chị Trần Thị H giữ nguyên nội dung khởi kiện về việc xin ly hôn với anh Cao Văn T và yêu cầu về nuôi con chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LC, tỉnh LC tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tại phiên toà là đúng theo các quy định của pháp luật, đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đảm bảo đúng pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1, Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đìnhNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Đề nghị, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H. Cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Cao Văn T.

Về nuôi con: Đề nghị, giao cháu Cao Kim N, sinh ngày 26/3/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao cháu Cao Phương A, sinh ngày 26/2/2020 cho anh Cao Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Anh Cao Văn T và chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ngoài ra còn đề nghị tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, bị đơn anh Cao Văn T đã được Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh LC triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có yêu cầu phản tố. Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh LC tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định: Chị Trần Thị H và anh Cao Văn T đăng ký kết hôn vào ngày 07/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện B, tỉnh LC. Quá trình chung sống, giữa chị Trần Thị H và anh Cao Văn T đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, do anh Cao Văn T uống rượu có hành vi xúc phạm và có hành động bạo lực gia đình, khiến cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng. Chị Trần Thị H xin được ly hôn với anh Cao Văn T.

Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình chung sống giữa chị Trần Thị H và anh Cao Văn T có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Cao Văn T có sử dụng rượu bia về xúc phạm, đánh đập vợ con, có hành động bạo lực gia đình, khiến cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc là đúng sự thật. Khi xảy ra mâu thuẫn chị Trần Thị H đã khởi kiện xin ly hôn anh Cao Văn T lần đầu vào tháng 01/2024, sau đó chị Trần Thị H đã rút đơn khởi kiện để quay về đoàn tụ nhưng không khắc phục được, vợ chồng không còn chung sống cùng nhau. Điều này đã chứng minh hôn nhân của chị Trần Thị H và anh Cao Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Trần Thị H yêu cầu ly hôn với anh Cao Văn T là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về nuôi con: Khi ly hôn chị Trần Thị H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh LC giải quyết: Giao con chung, cháu Cao Kim N, sinh ngày 26/3/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao cháu Cao Phương A, sinh ngày 26/2/2020 cho anh Cao Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Anh Cao Văn T và chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên và phải phù hợp với nguyện vọng của người con. Trong vụ án này, cháu Cao Kim N có nguyện vọng được ở với chị Trần Thị H, chị Trần Thị H có công việc và thu nhập ổn định. Anh Cao Văn T cũng có quyền được nuôi con. Vì vậy, cần giao cháu Cao Kim N, sinh ngày 26/3/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao cháu Cao Phương A, sinh ngày 26/2/2020 cho anh Cao Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi, là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về cấp dưỡng: Chị Trần Thị H và anh Cao Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và quyền, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Trần Thị H và anh Cao Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1, Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Cao Văn T. Quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị H và anh Cao Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung, cháu Cao Kim N, sinh ngày 26/3/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao cháu Cao Phương A, sinh ngày 26/2/2020 cho anh Cao Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi.

Chị Trần Thị H và anh Cao Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Trần Thị H và anh Cao Văn T, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000638 ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố LC, tỉnh LC.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nguyên đơn chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Cao Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

84
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 68/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:68/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai - Lào Cai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/10/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về