Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 63/2022/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ - TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 63/2022/HNGĐ-ST NGÀY 30/09/2022 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 174/2022/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2022.

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị C, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện C1, tỉnh Tuyên Quang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Chỗ ở hiện nay: Thôn Bản Ho, xã P, huyện C1, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bị đơn: Anh Hà Văn D, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện C1, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn D được tự do tìm hiểu tự nguyện đi đến hôn nhân, kết hôn vào ngày 26/9/2009 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C1, tỉnh Tuyên Quang và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau tại thôn K, xã P, huyện C1, tỉnh Tuyên Quang vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chị đi làm công nhân ở Hải Dương, anh D không tin tưởng, nghi ngờ chị có quan hệ bất chính với người đàn ông khác nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã dẫn đến tình cảm bị rạn nứt, cuộc sống chung không có hạnh phúc, đến năm 2020 mâu thuẫn trầm trọng chị và anh D sống ly thân từ năm 2020 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vẫn không thể khắc phục được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn D.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Hà Quốc C2, sinh ngày 27/12/2009. Chị C đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu C2 không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã báo gọi anh Hà Văn D đến để giải quyết việc chị Hà Thị C đề nghị ly hôn nhưng anh D đều không có mặt. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh D đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã P, huyện C1, tỉnh Tuyên Quang. Theo lời khai của bà Hà Thị T (mẹ đẻ của anh Hà Văn D) thì anh D và chị C có được tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau, được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn theo quy định vào năm 2009 tại UBND xã P, huyện C1. Sau khi cưới thì vợ chồng chị C và anh D ở nhà anh D tại thôn K, xã P, huyện C1. Đến năm 2020 chị C đi làm công nhân thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do anh D nghi ngờ chị C có quan hệ với người khác. Khi mâu thuẫn sảy ra gia đình bà T đã khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được. Đến năm 2020 chị C về nhà bố mẹ đẻ tại thôn Bản Ho, xã P sinh sống, không còn quan tâm đến anh D. Chị C và anh D có một người con chung là cháu Hà Quốc C2, sinh ngày 27/12/2009.

Chị C làm đơn xin ly hôn với anh D, anh D có biết và nhất trí ly hôn nhưng do đi làm ăn xa nên không về. Bà Tình cũng không biết địa chỉ nơi làm việc của anh D. Anh D và gia đình bà có nhận được văn bản của Tòa án và đã thông báo cho anh D biết việc chị C xin ly hôn nhưng anh D không về.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định; Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Hà Thị C, cho chị Hà Thị C được ly hôn với anh Hà Văn D.

- Giao cháu Hà Quốc C2, sinh ngày 27/12/2009 cho chị Hà Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hà Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản và nợ chung chị Hà Thị C xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy không xem xét.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Hà Thị C phải nộp toàn bộ tiền phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn) theo quy định. Anh Hà Văn D không phải nộp án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng.

Chị Hà Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C1, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho chị ly hôn với anh Hà Văn D; Anh Hà Văn D có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã P, huyện C1. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C1, tỉnh Tuyên Quang.

Chị Hà Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hà Văn D đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, nên cần áp dụng các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện C1 đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; thực hiện các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

[2] Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị C và anh Hà Văn D có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình; có đăng ký kết hôn vào ngày 26/9/2009 tại UBND xã P, huyện C1, tỉnh Tuyên Quang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống chung của vợ chồng chị C và anh D không có sự gắn kết, chia sẻ trong cuộc sống để xây dựng một gia đình hạnh phúc; cả hai đều đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Như vậy, căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình thì tình trạng hôn nhân của chị C và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử thấy rằng giữa chị C và anh D không có sự gắn kết trong cuộc sống, chị C và anh D đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị C.

[2.2] Về con chung: Chị Hà Thị C và anh Hà Văn D có 01 con chung là cháu Hà Quốc C2, sinh ngày 27/12/2009. Cháu C2 có nguyện vọng được ở với chị C, hiện nay cháu C2 còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Hà Quốc C2 cho chị Hà Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Anh Hà Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp có sự thay đổi về điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ảnh hưởng đến quyền lợi về mọi mặt của con và các bên đương sự có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hà Thị C xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Hà Thị C phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn) theo quy định tại các Điều 143, 144, 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271 và điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 ; các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôncủa chị Hà Thị C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị C được ly hôn với anh Hà Văn D.

2. Về con chung: Giao cháu Hà Quốc C2, sinh ngày 27/12/2009 cho chị Hà Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hà Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn): Chị Hà Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005365, ngày 11 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C1. Anh Hà Văn D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị C và anh Hà Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

64
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 63/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:63/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 30/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về