TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
BẢN ÁN 58/2024/HNGĐ-ST NGÀY 18/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 144/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 38 ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu H, sinh năm 1987. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Hoàng Minh S, sinh năm 1987. Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2.
Cùng địa chỉ: Tổ 5, phường Duyên H, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 09 tháng 7 năm 2024, bản tự khai chị Đặng Thị Thu H trình bày:
Chị Đặng Thị Thu H và anh Hoàng Minh S tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào ngày 24 tháng 10 năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng T, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không cải thiện được. Tuy sống chung cùng nhau nhưng không ai quan tâm trách nhiệm đến ai về tình cảm cũng như kinh tế. Đến nay, mâu thuẫn của anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hòang Minh S.
Về con chung: Chị Đặng Thị Thu H và anh Hoàng Minh S có 02 con chung là cháu Hòang Đặng Gia B, sinh ngày 08/7/2013; Cháu Hoàng Thanh B1, sinh ngày 13/4/2016. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 2 cháu B, B1 cho đến khi cả 2 cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: Anh Hoàng Minh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, công nợ: Chị Đặng Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Hoàng Minh S Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Hoàng Minh S nhưng anh S không có văn bản trả lời và cũng không đến Tòa án để làm bản tự khai, tiếp cận công khai chứng cứ và Hòa giải theo qui định. Do vậy anh S phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tiến hành các thủ tục tố tụng đầy đủ đúng quy định pháp luật; Nguyên đơn thực hiện đúng đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp tài liệu chứng cứ, không tham gia phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa. Tại phiên tòa bị đơn anh Hòang Minh S vắng mặt lần thứ 2 không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đặng Thị Thu H.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Thu H được ly hôn anh Hòang Minh S.
Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị Thu H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hòang Đặng Gia B, sinh ngày 08/7/2013;
Cháu Hoàng Thanh B1, sinh ngày 13/4/2016 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) Về cấp dưỡng: Anh Hòang Minh S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vàụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Hoàng Minh S có hộ khẩu thường trú tại: Tổ 5, phường Duyên H, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Hoàng Minh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, chị Đặng Thị Thu H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị chị Đặng Thị Thu H, anh Hòang Minh S theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Chị Đặng Thị Thu H, anh Hoàng Minh S xác lập quan hệ hôn nhân vào ngày 24/10/2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng T, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn cuộc sống chung và chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Tuy sống chung cùng nhau nhưng không ai quan tâm trách nhiệm đến ai, do mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hòang Minh S. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Đặng Thị Thu H cương quyết ly hôn vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, anh chị đã sống ly thân với nhau từ lâu, hiện tại mỗi người đã có cuộc sống riêng, không còn quan tâm gì đến nhau. Nội dung xác minh của Tòa án phù hợp với lời khai của chị H và các tài liệu chứng cứ thu thập được. Xét thấy mâu thuẫn và chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đch hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Thu H.
[3] Về con chung: Chị Đặng Thị Thu H, anh Hòang Minh S có 02 con chung là cháu Hòang Đặng Gia B, sinh ngày 08/7/2013; Cháu Hòang Thanh B1, sinh ngày 13/4/2016. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu cả 2 cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) Xét thấy chị H làm nghề tự do, có thu nhập hàng tháng là 10.000.000đồng/tháng, có chỗ ở ổn định, từ ngày chị H và anh S ly thân thì cả 2 cháu đều do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp, ý kiến khi được hỏi thì cháu B, cháu B1 đều muốn ở với mẹ. Vì vậy Hội đồng xét xử giao là cháu Hòang Đặng Gia B, sinh ngày 08/7/2013; Cháu Hòang Thanh B1, sinh ngày 13/4/2016 cho chị Đặng Thị Thu H là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục.
Anh Hòang Minh S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
[4] Về tài sản và nợ chung: Chị Đặng Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Đặng Thị Thu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Thu H
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu H được ly hôn anh Hoàng Minh S. Quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị Thu H và anh Hoàng Minh S chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hòang Đặng Gia B, sinh ngày 08/7/2013; Cháu Hoàng Thanh B1, sinh ngày 13/4/2016 cho chị Đặng Thị Thu H là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu B, cháu B1 trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: Anh Hòang Minh S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở quyền này. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Đặng Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000632 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.
Chị Đặng Thị Thu H, anh Hòang Minh S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 58/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 58/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai - Lào Cai |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 18/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về