TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
BẢN ÁN 57/2024/HNGĐ-ST NGÀY 22/03/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 332/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/02/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-HNGĐ ngay 07/3/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Bàn Thị H, sinh năm 1997.
- Bị đơn: Anh Ma Đức Đ, sinh năm 1999.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Chị Bàn Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Ma Đức Đ vắng mặt lần 02 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bàn Thị H trình bày: Chị và anh Ma Đức Đ có tìm hiểu một thời gian và kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang vào năm 2019. Sau khi kết hôn, chị và anh Đ sinh sống cùng gia đình bố mẹ chồng tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng vẫn bình thường nhưng khi anh Đ đi làm ăn xa thì ít liên lạc với nhau, dần dần vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Chị và anh Đ đã sống ly thân và không còn quan hệ với nhau về kinh tế cũng như tình cảm, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ. Quá trình chung sống, chị và anh Đ có 01 người con chung tên là Ma Đức D, sinh ngày 29/01/2018. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung, chị xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã báo gọi anh Ma Đ1 Đ đến để giải quyết việc chị H đề nghị ly hôn, nhưng anh Đ đều không có mặt. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Anh Đ đi làm ăn xa, vẫn về thăm con và gia đình.
Tại biên bản lấy lời khai bà Lục Thị Đ2 (mẹ đẻ của anh Ma Đức Đ) trình bày: Anh Ma Đức Đ và chị Bạn Thị H1 được tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi cưới thì vợ chồng anh Đ, chị H1 ở chung cùng gia đình nhà chồng tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống vợ chồng chị H1, anh Đ có phát sinh mâu thuẫn như thế nào thì bà không rõ, theo bà nghĩ hai anh chị đi làm ăn xa, mỗi người một nơi nên không có thời gian gần gũi nhau. Anh Đ và chị H1 có 01 người con chung tên là Ma Đức D, sinh ngày 29/01/2018. Hiện nay, cháu D đang ở cùng bà. Hiện anh Đ đi làm ăn xa, vẫn về thăm nom và gửi tiền chăm nuôi cháu D, địa chỉ cụ thể của anh Đ thì bà không biết nên không cung cấp được cho Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa gửi các văn bản, thông báo cho anh Đ, gia đình bà có nhận thay anh Đ và có thông báo nội dung văn bản cho anh Đ về việc chị H1 đề nghị giải quyết ly hôn với anh Đ.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn chị Bàn Thị H vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ma Đức Đ. về con chung, chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Về tài sản chung, nợ chung chị H xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Ma Đ1 Đoàn vắng mặt, không có lý do, anh Đ không có văn bản hay ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị H, cho chị Bàn Thị H được ly hôn anh Ma Đức Đ;
Về con chung: Giao cháu Ma Đức D, sinh ngày 29/01/2018 cho chị Bàn Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ma Đức Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị H xác định không có, không đề nghị xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Bàn Thị H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định; anh Ma Đức Đ không phải chịu án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Bàn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Ma Đức Đ, nơi cư trú tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.
Quá trình xác minh tại địa phương cho thấy, anh Ma Đức Đ có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Theo thông tin từ gia đình, anh Đ đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ cụ thể nên hiện tại không rõ anh Đ đang ở đâu. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thông báo, triệu tập, gia đình anh Đ đã thông báo cho anh Đ nhưng anh Đ không có mặt tại Tòa án và cũng không thông báo địa chỉ cụ thể nơi ở và nơi làm việc, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; thực hiện các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bàn Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Ma Đức Đ đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Bàn Thị H và anh Ma Đ1 Đoàn kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang ngày 12/9/2019, do vậy quan hệ hôn nhân của chị H và anh Đ là hợp pháp.
Kết quả xác minh tại địa phương và gia đình thể hiện: Sau khi kết hôn, chị H và anh Đ chung sống với nhau cùng gia đình nhà chồng tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không biết rõ, tuy nhiên có được biết chị H và anh Đ đi làm ăn xa, sau đó chị H và anh Đ không cùng nhau về chung sống với bố mẹ anh Đ, có thể do hai vợ chồng đi làm ăn xa, mỗi người một nơi nên không gần gũi nhau. Hiện nay, chị H và anh Đ không chung sống với nhau, không còn quan tâm đến nhau và đã thông báo cho anh Đ biết nội dung chị H xin ly hôn với anh Đ. Như vậy thực tế chị H và anh Đ đã không còn chung sống với nhau, tình trạng hôn nhân của chị H và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và G nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Ma Đức Đ.
[2.2] Về con chung: Chị Bàn Thị H và anh Ma Đ1 Đ có 01 con chung là cháu Ma Đức D, sinh ngày 29/01/2018. Xét thấy hiện anh Ma Đức Đ không có mặt tại địa phương, không biết hiện nay cư trú, làm việc tại đâu, đồng thời cũng không có văn bản gửi đến Tòa án thể hiện quan điểm ý kiến về quyền nuôi dưỡng con. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung, nên cần giao cháu Ma Đức D cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hồn nhân gia đình. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Bàn Thị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Bàn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Ma Đức Đ không phải chịu án phí.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bàn Thị H, cho chị Bàn Thị H được ly hôn anh Ma Đức Đ.
2. Về con chung: Giao con chung là Ma Đức D, sinh ngày 29/01/2018 cho chị Bàn Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Anh Ma Đức Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom đế cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Bàn Thị H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000000857514 ngày 20/12/2023 của đơn vị trung gian thanh toán Công ty cổ phần T và biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001536 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chị H đã nộp đủ án phí.
Anh Ma Đức Đ không nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 57/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 57/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 22/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về