TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
BẢN ÁN 55/2022/HNGĐ-ST NGÀY 23/09/2022 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 106/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bình C, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ A, khu phố Thanh Long, thị trấn D, huyện M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có đơn xin vắng mặt”
Bị đơn: Ông Võ An T, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Địa chỉ: Tổ A, khu phố Thanh Long, thị trấn D, huyện M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 26/4/2022 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bình C trình bày:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bình C và ông Võ An T kết hôn năm 2011, trên tinh thần tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LP, thị xã Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 14/10/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại khu phố Thanh Long, thị trấn D, huyện M. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau và ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Do không thể sống chung nên hai bên đã ly thân từ tháng 4/2022 đến nay. Nay, bà C nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc và không thể đoàn tụ chung sống với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà C được ly hôn ông T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà C và ông T có 01 con chung là Võ Thị Trúc L, sinh ngày 02/5/2011, hiện nay đang sống cùng với ông T. Khi ly hôn bà C yêu cầu giao con chung cho ông T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà C không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – ông Võ An T vắng mặt trong quá trình tố tụng.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 106/2022/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022; các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kèm theo giấy triệu tập ông T đến Tòa án để làm việc, nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến về nội dung vụ án. Vì vậy, Tòa án căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết là chưa chấp hành pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Bình C được ly hôn ông Võ An T; về con chung, căn cứ nguyện vọng của con chưa thành niên, đề nghị giao cháu L cho ông T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà C không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Tòa án nhân dân huyện M nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn ông Võ An T có nơi cư trú tại thị trấn D, huyện M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị Bình C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Võ An T và yêu cầu về con chung khi ly hôn nên xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 12/8/2022, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bình C có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Võ An T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia các phiên tòa sơ thẩm mở ngày 05/9/2022 và ngày 23/9/2022, nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà C và ông T theo quy định.
[2]. Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 88, quyển số 01, ngày 14/10/2011 của Ủy ban nhân dân xã LP, thị xã Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xác định hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bình C và ông Võ An T là hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau nên thường xuyên bất đồng trong cuộc sống. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 4/2022 đến nay, không còn phụ thuộc nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Nay, bà C xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà C được ly hôn ông T. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa giữa bà C và ông T đã đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà C được ly hôn ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
[3]. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà C và ông T có 01 con chung là Võ Thị Trúc L, sinh ngày 02/5/2011. Hiện nay cháu L đang sống với ông T và có nguyện vọng được ở với với ông T nếu Tòa án giải quyết cho bà C và ông T ly hôn, do đó giao cháu L cho ông T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Không có yêu cầu nên bà C không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về tài sản và nợ chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn bà C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bình C được ly hôn ông Võ An T.
2. Về con chung: Giao cháu Võ Thị Trúc L, sinh ngày 02/5/2011cho ông Võ An T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Bình C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc các tổ chức, cá nhân được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bình C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009768 ngày 26 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Nguyễn Thị Bình C đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 55/2022/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 55/2022/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Phú Mỹ - Bà Rịa - Vũng Tàu |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 23/09/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về