Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 54/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 54/2024/HNGĐ-ST NGÀY 19/03/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 267/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/02/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04/3/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1992.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Chị Đinh Thị T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Phạm Văn T1 vắng mặt lần 02 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đinh Thị T trình bày: Chị và anh Phạm Văn T1 được tư do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại UBND xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về cuộc sống, anh T1 có đồi lần đánh chị và đe dọa giết chị trong những lần uống rượu say. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vợ chồng không khắc phục được, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn T1. Quá trình chung sống, chị và anh T1 có 02 người con chung, tên là Phạm Gia H, sinh ngày 17/6/2011 và Phạm Gia B, sinh ngày 14/7/2015. Về con chung, chị đề nghị được nuôi dưỡng cả hai cháu và đề nghị anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung theo thu nhập cá nhân của anh T1. Về tài sản chung, chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Về vay nợ chung, chị xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai bị đơn anh Phạm Văn T1 trình bày: Anh và chị Đinh Thị T được tự nguyện tìm hiểu và năm 2010 đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh sinh sống tại thôn N, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống vợ chồng chỉ phát sinh những mâu thuẫn nhỏ nhặt, chị T đi làm công nhân từ năm 2018 đến nay, trong quá trình đi làm, chị T vẫn thường xuyên về thăm anh và các con. Tuy nhiên đến tháng 8 âm lịch của năm 2023, chị T đã không về chung sống với anh và các con. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh, anh không có ý kiến cụ thể, tùy theo quan điểm của chị T, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống anh và chị T có 02 người con chung, tên là Phạm Gia H, sinh ngày 17/6/2011 và Phạm Gia B, sinh ngày 14/7/2015. Hiện nay hai cháu đang ở cùng anh. Hiện nay anh đang có nghề nghiệp chính là lao động tự do, thu nhập bình quân của anh là 4.500.000 đồng/tháng. Từ tháng 06 năm 2022, anh là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu và chị T không gửi tiền để lo sinh hoạt gia đình và nuôi các con. Nếu phải ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn chị Đinh Thị T vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn T1. về con chung, do hiện nay chị chưa đủ điều kiện về nơi ăn ở cho các cháu nên chị đề nghị anh T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị sẽ cấp dưỡng theo khả năng của chị và không đề nghị ghi phần cấp dưỡng trong bản án. Về tài sản chung, nợ chung chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Văn T1 vắng mặt, không có lý do, anh không có văn bản hay ý kiến có thay đổi hay bổ sung gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T, cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Phạm Văn T1;

Về con chung: Giao 02 con chung là Phạm Gia B, sinh ngày 14/7/2015 và Phạm Gia H, sinh ngày 17/6/2011 cho anh Phạm Văn T1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Đinh Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có, không đề nghị xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định; anh Phạm Văn T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Đinh Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Phạm Văn T1, nơi cư trú tại thôn N, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; thực hiện các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Đinh Thị T và anh Phạm Văn T1 kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang ngày 02/8/2010, do vậy quan hệ hôn nhân của chị T và anh T1 là hợp pháp.

Chị T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T1 có đánh đập và đe dọa giết chị, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không khắc phục được. Còn anh T1 xác định vợ chồng chỉ phát sinh những mâu thuẫn nhỏ nhặt, chỉ đến tháng 8 âm lịch của năm 2023, chị T không về chung sống với anh. Mặc dù, nguyên đơn và bị đơn trình bày nguyên nhân mâu thuẫn khác nhau nhưng thực tế cả chị T và anh T1 đều thừa nhận cuộc sống hôn nhân có phát sinh mâu thuẫn. Chị T đề nghị giải quyết ly hôn với anh T1, anh T1 không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Kết quả xác minh tại địa phương cho thấy chị T và anh T1 hiện không còn chung sống với nhau. Như vậy tình trạng hôn nhân của chị T, anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T là xử cho chị T được ly hôn với anh Phạm Văn T1.

[2.2] Về con chung: Chị Đinh Thị T và anh Phạm Văn T1 có 02 con chung là cháu Phạm Gia B, sinh ngày 14/7/2015 và Phạm Gia H, sinh ngày 17/6/2011. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị T xác định chưa đủ điều kiện về nơi ăn, ở nên đề nghị anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Tại biên bản lấy lời khai, anh T1 có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình xác minh và lấy ý kiến của cháu Phạm Gia H và cháu Phạm Gia B, thì hiện nay 02 con chung đang sinh sống cùng anh T1 và đều cùng có nguyện vọng được ở cùng anh T1. Kết quả xác minh tại địa phương, mức thu nhập bình quân trên đầu người của người lao động tại địa phương là 4.000.000 đồng/tháng/người. Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện tại 02 con chung đang ở cùng anh T1, sinh hoạt học hành ổn định, chị T và anh T1 đều có ý kiến để anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, đồng thời cháu B và cháu H đều có nguyện vọng được ở cùng anh T1. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao 02 con chung là cháu B và cháu H cho anh Phạm Văn T1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Đinh Thị T và anh Phạm Văn T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Phạm Văn T1 không phải chịu án phí.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/ƯBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đinh Thị T, cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Phạm Văn T1.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Phạm Gia H, sinh ngày 17/6/2011 và Phạm Gia B, sinh ngày 14/7/2015 cho anh Phạm Văn T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Chị Đinh Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.

San khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom đế cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Đinh Thị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000000718644 ngày 16/10/2023 của đơn vị trung gian thanh toán Công ty cổ phần T2 và biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001452 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chị T đã nộp đủ án phí.

Anh Phạm Văn T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

47
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 54/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:54/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về