Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 41/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 41/2024/HNGĐ-ST NGÀY 13/08/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Trong ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2024/TLST- HNGĐ, ngày 15 tháng 3 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Sa P, sinh năm 1976 (có mặt) Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Thạch Minh Q, sinh năm 1975 (vắng mặt) Đăng ký thường trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện tại: Số F ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 02 năm 2024 của nguyên đơn là bà Thạch Thị Sa P và một số lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn là bà Thạch Thị Sa P và bị đơn là ông Thạch Minh Q chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 nhưng đến ngày 02/7/2014 ông bà mới đi đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy kết hôn số 99/2014. Thời gian đầu ông bà chung sống với nhau rất hạnh phúc và có chung với nhau 03 người con chung là cháu Thạch Thị Sà P1, sinh ngày 29/5/1997, cháu Thạch Minh T, sinh ngày 01/01/2002 và cháu Thạch Thảo T1, sinh ngày 21/9/2013. Hiện đang sống cùng bà P tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên về sau, ông bà thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Q không quan tâm đế cuộc sống gia đình, vợ con, thường xuyên cờ bạc, chửi mắng bà. Ngoài ra, cả hai thường bất đồng quan điểm với nhau, dẫn đến cả hai thường xuyên cãi vã. Ông và bà đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay.

Tại phiên tòa nguyên đơn Thạch Thị Sa P yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Sa P yêu cầu được ly hôn với ông Thạch Minh Q.

Về con chung: Bà Thạch Thị Sa P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch Thảo T1, sinh ngày 21/9/2013 đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Thạch Thị Sà P1, sinh ngày 29/5/1997 và cháu Thạch Minh T sinh ngày 01/01/2002 hiện nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn ông Thạch Minh Q: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của bà Thạch Thị Sa P tại Thông báo thụ lý vụ án số:

62/TB-TLVA, ngày 15 tháng 3 năm 2024 và đã tống đạt hợp lệ cho ông Thạch Minh Q, cũng như đã triệu tập hợp lệ ông Thạch Minh Q đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần và Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông. Nhưng ông Q không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà P và cũng không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đồng thời, Tòa án cũng ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông Q cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn là bà Thạch Thị Sa P thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn là ông Thạch Minh Q vắng mặt không có lý do là không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Sa P, về việc yêu cầu xin ly hôn với ông Thạch Minh Q và yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Thạch Thảo T1 sinh ngày 21/9/2013 đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Thạch Thị Sà P1, sinh ngày 29/5/1997 và cháu Thạch Minh T sinh ngày 01/01/2002 hiện nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhận thấy, các yêu cầu nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, về tài sản chung và nợ chung bà P tự trình bày không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 16 tháng 02 năm 2024, nguyên đơn Phi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn Thạch Minh Q, sinh năm 1975 có địa chỉ tại số F ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng bị đơn Thạch Minh Q vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, nguyên đơn P yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn Q theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông Q sống chung với nhau từ năm 1995 trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến năm 2014 mới đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02 tháng 7 năm 2014, nên quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông Q là hợp pháp. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, bà P có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Q.

[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà P, Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi kết hôn, bà P và ông Q cũng có thời gian chung sống hạnh phúc bên nhau từ năm 1995 đến năm 2015 và từ đó đến nay mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng không thể hàn gắn được và đã sống ly thân từ đó cho đến nay, tại phiên tòa bà P kiên quyết ly hôn với ông Q. Như vậy, bà P và ông Q đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, đó là không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không sống chung với nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà P là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà P ly hôn với ông Q.

[5] Về con chung: Bà Thạch Thị Sa P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch Thảo T1, sinh ngày 21/9/2013 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Riêng cháu Thạch Thị Sà P1, sinh ngày 29/5/1997 và cháu Thạch Minh T, sinh ngày 01/01/2002 hiện nay đã trưởng thành, có khả năng lao động.

Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi bà P và ông Q sống ly thân cho đến nay cháu T1 đều do bà P trực tiếp chăm sóc, cuộc sống của cháu đang ổn định, tâm lý về mọi mặt được đảm bảo và cháu hiện tại cũng được bà P cho đi học đầy đủ. Đồng thời tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu T1 thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” chấp nhận yêu cầu của bà P giao cháu T1 cho bà P được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, ông Q là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng tại phiên tòa bà P trình bày hiện tại bà có việc làm ổn định và thu nhập trên 4.000.000 đồng một tháng đủ để lo cho cháu T1. Vì vậy, bà P không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Riêng cháu Thạch Thị Sà P1, sinh ngày 29/5/1997 và cháu Thạch Minh T, sinh ngày 01/01/2002 đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Ngoài ra, Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 còn quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Như vậy, ông Q là người không trực tiếp nuôi con nên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[8] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thạch Thị Sa P tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Từ những phân tích trên, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Sa P và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bà P là người xin ly hôn nên theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 3 Điều 235 và Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Khoản 2 Điều 81, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Sa P 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Thạch Thị Sa P và ông Thạch Minh Q.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Thạch Thảo T1 (nữ, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2013) hiện đang sống chung với bà P cho bà Thạch Thị Sa P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.

Do cháu Thạch Thị Sà P1, sinh ngày 29/5/1997 và cháu Thạch Minh T, sinh ngày 01/01/2002 đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề này ra để xem xét.

2.3. Ông Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở ông Q thực hiện quyền này, theo quy định tại Khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thạch Thị Sa P tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà P phải chịu là 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000802 ngày 16/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Bà P đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

50
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 41/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:41/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về