Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 40/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 40/2023/HNGĐ-ST NGÀY 14/09/2023 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2023/QĐST - HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Nh - Sinh năm 1982.

Địa chỉ: TDP số 2, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Phạm Thanh B3 - Sinh năm 1981.

Địa chỉ: TDP số 2, thị trấn N, huyện B, Lào Cai - (vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2023 và bản tự khai ngày 04/4/2023 cũng như tại phiên tòa, chị Đỗ Thị Nh trình bầy: Chị và anh Phạm Thanh B3 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16/12/2002, tại UBND thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2013 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, không thống nhất với nhau trong việc làm kinh tế xuất phát từ đó vợ chồng xẩy ra cãi nhau; năm 2013 chị đã làm đơn xin ly hôn anh B3 tại Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã hòa giải vợ chồng chị đoàn tụ, chị đã rút đơn, tuy nhiên sau khi chị rút đơn vợ chồng chị vẫn không khắc phục được mâu thuẫn mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Thanh B3.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung, cháu Phạm Đức Thuận, sinh ngày 23/9/2003 và cháu Phạm Bảo An, sinh ngày 01/9/2013, cháu Thuận đã trưởng thành khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu An, chị không yêu cầu anh B3 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Chị N2 xác nhận vợ chồng chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay mượn gì, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phạm Thanh B3 (Bị đơn) trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt được các văn bản tố tụng cho anh B3 nhưng anh B3 đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện.

Đối với vụ án này Toà án mở phiên họp công khai chứng cứ và không hòa giải được về hòa giải về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng chăm sóc con chung, vì vắng mặt bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đỗ Thị Nh khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Thanh B3 đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, chị N2 và anh B3 đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố số 2, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Nh và anh Phạm Thanh B3 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong việc làm kinh tế xuất phát từ đó vợ chồng xẩy ra cãi nhau, năm 2013 chị N2 đã làm đơn ly hôn anh B3, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã hòa giải nên chị đã rút đơn, tuy nhiên sau khi chị rút đơn vợ chồng chị không khắc phục được mâu thuẫn. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được chính quyền địa phương xác nhận. Tại phiên toà hôm nay, chị Đỗ Thị Nh giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Phạm Thanh B3.

Đối với anh Phạm Thanh B3 vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh B3 nhưng anh B3 đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện, vì vậy cần xem xét giải quyết vắng mặt anh B3 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy, việc chị Đỗ Thị Nh xin ly hôn với anh Phạm Thanh B3 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Đỗ Thị Nh và anh Phạm Thanh B3 có hai con chung là cháu Phạm Đức Thuận, sinh ngày 23/9/2003 và cháu Phạm Bảo An, sinh ngày 01/9/2013. Tại phiên tòa hôm nay chị N2 vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Bảo An, chị không yêu cầu anh B3 cấp dưỡng tiền nuôi con; hiện nay chị làm tự do thu nhập bình quân 5.000.000đồng/tháng được UBND thị trấn N xác nhận; Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ghi ý kiến của người chưa thành niên đối với cháu Phạm Bảo A1 thì cháu có nguyện vọng được ở với chị N2; Đối với anh Phạm Thanh B3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh B3 nhưng anh đều không có văn bản trả lời. Vì vậy xét yêu cầu xin được nuôi dưỡng con chung của chị N2 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần giao cháu Phạm Bảo A1 cho chị N2 trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với nguyện vọng của cháu Phạm Bảo An.

Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị N2 không yêu cầu anh B3 cấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

[5] Về công nợ: Chị N2 xác nhận quá trình chung sống chị và anh B3 không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị Nh ly hôn anh Phạm Thanh B3.

2. Về con chung: Xử giao cháu Phạm Bảo An, sinh ngày 01/9/2013 cho chị Đỗ Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu A1 đủ 18 tuổi, anh Phạm Thanh B3 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh Phạm Thanh B3 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị Nh phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000761 ngày 04/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai; Chị N2 đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

59
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 40/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:40/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bát Xát - Lào Cai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về