Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 27/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 27/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1995. ĐKHKTT: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Trịnh Hoài N, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 10/4/2024, bản tự khai ngày 08/5/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trịnh Hoài N kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ngày 29/7/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời ngắn, đến tháng 10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Anh N còn ham chơi, rượu chè, không chăm sóc con cái, không làm trụ cột về kinh tế cho gia đình. Sau khi mâu thuẫn xảy ra, gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân lần 1 từ tháng 10/2021 đến tháng 8/2023 quay về đoàn tụ. Sau khi về đoàn tụ, vợ chồng vẫn xảy ra mâu thuẫn căng thẳng, nên đến tháng 10/2023 vợ chồng sống ly thân lần 2 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị xin được ly hôn với anh N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trịnh Nguyễn Minh A, sinh ngày 28/01/2021. Cháu khỏe mạnh bình thường và đang ở với chị. Chị có nguyện vọng được nuôi con. Hiện tại, chị làm công nhân cho Công ty T, thu nhập trung bình 6.000.000 đồng/tháng, có đủ điều kiện để nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Khi khởi kiện, chị yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, xét thấy anh N không có công việc ổn định, thu nhập thấp, nên tại phiên tòa quan điểm của chị là không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại Bản tự khai ngày 08/5/2024, bị đơn là anh Trịnh Hoài N trình bày như sau:

Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ngày 29/7/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời ngắn, đến tháng 10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Sau khi mâu thuẫn xảy ra, gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân lần 1 từ tháng 10/2021 đến tháng 8/2023 quay về đoàn tụ. Sau khi về đoàn tụ, vợ chồng vẫn xảy ra mâu thuẫn căng thẳng, nên đến tháng 10/2023 vợ chồng sống ly thân lần 2 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị H xin ly hôn, anh xét thấy anh vẫn còn tình cảm với vợ và con còn nhỏ, nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trịnh Nguyễn Minh A, sinh ngày 28/01/2021. Anh không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tòa án đã thông báo tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, nhưng anh N không đến nên không tiến hành hòa giải được.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn cơ bản thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trịnh Hoài N. Về con chung: Giao cháu Trịnh Nguyễn Minh A, sinh ngày 28/01/2021 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

+ Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Hoài N là đúng quy định về thẩm quyền xét xử theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị H và anh N đã xảy ra mâu thuẫn từ tháng 10/2020. Trên cơ sở trình bày của đương sự và xác minh tại gia đình, địa phương xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không giải quyết được mâu thuẫn vợ chồng. Chị H và anh N đã ly thân lần 1 từ tháng 10/2021 đến tháng 8/2023 quay về đoàn tụ. Sau đó vợ chồng vẫn mâu thuẫn căng thẳng nên đã sống ly thân lần 2 từ tháng 10/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Anh N không đồng ý ly hôn nhưng không có giải pháp gì để thuyết phục chị H về đoàn tụ. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải 02 lần và triệu tập đến phiên tòa 02 lần, nhưng anh N đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ anh N không có thiện chí níu kéo hạnh phúc, có thái độ bỏ mặc cho Tòa án giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh N mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được, đời sống chung đã chấm dứt từ lâu, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh N.

[4] Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Trịnh Nguyễn Minh A, sinh ngày 28/01/2021. Chị H có nguyện vọng được nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H có việc làm ổn định, có thu nhập, có đủ điều kiện để nuôi con. Cháu Minh A còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và lâu nay cháu ở ổn định với chị H. Vì vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của cháu Minh A, giao cháu Minh A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị H, nên không buộc anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và công nợ chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị H khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trịnh Hoài N.

2. Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Trịnh Nguyễn Minh A, sinh ngày 28/01/2021. Giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trịnh Nguyễn Minh A. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, các bên đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn) mà chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo Biên lai thu số 0003510 ngày 11/4/2024. Chấp nhận chị H đã nộp đủ án phí ly hôn.

5. Quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

93
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 27/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:27/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành:
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về