TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
BẢN ÁN 263/2024/HNGĐ-ST NGÀY 13/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/8/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đạt N, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm D, thôn Đ, xã Đ, huyện Q, thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Chị Dương Thị P, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Anh N có đơn xin xét xử vắng mặt, chị P vắng mặt lần hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Nguyễn Đạt N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đạt N và chị Dương Thị P kết hôn ngày vào năm 2005 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang do hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống một thời gian ngắn tại thôn P, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang vợ chồng sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2008 hai vợ chồng cùng nhau đi làm ăn ở ngoài địa phương, cuộc sống bình thường đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và do anh nghi ngờ chị P có quan hệ bất chính với người khác nên chị P không quan tâm đến gia đình từ đó vợ chồng xảy ra cãi chửi nhau dẫn đến tình cảm bị rạn nứt cuộc sống chung hết sức căng thẳng cũng trong năm 2013 mâu thuẫn rất trầm trọng anh và chị P đã sống ly thân từ đó cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Dương Thị P.
Về con chung: Có 02 con là cháu Nguyễn Thị Thúy N1, sinh ngày 08/8/2006 và cháu Nguyễn Đạt Đ, sinh ngày 14/10/2012. Ly hôn anh N nhất trí giao cháu Đ cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh N tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Đ là 1.500.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đông đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng thực hiện theo tháng.
Đối với cháu Nguyễn Thị Thúy N1 hiện nay cháu N1 đã đủ 18 tuổi có khả năng lao động bình thường, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai chị Dương Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị P và anh Nguyễn Đạt N đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng nhau đi làm công ty ở ngoài địa phương, quá trình chung sống bình thường đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng sống ly thân đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh N xin ly hôn chị không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Có 02 con là cháu Nguyễn Thị Thúy N1, sinh ngày 08/8/2006 và cháu Nguyễn Đạt Đ, sinh ngày 14/10/2012. Nếu phải ly hôn chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu Đ mỗi tháng là 2.000.000 đồng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đông đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng thực hiện theo tháng; đối với cháu Nguyễn Thị Thúy N1 tự lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Nguyễn Đạt N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Dương Thị P; về con chung: Có 02 con là cháu Nguyễn Thị Thúy N1, sinh ngày 08/8/2006 và cháu Nguyễn Đạt Đ, sinh ngày 14/10/2012. Ly hôn anh nhất trí giao cháu Đ cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng và anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Đ là 1.500.000 đồng/tháng, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đông đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng thực hiện theo tháng; đối với cháu Nguyễn Thị Thúy N1 hiện nay đã đủ 18 tuổi có khả năng lao động bình thường, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã báo gọi chị Dương Thị P đến Tòa án để giải quyết việc anh N yêu cầu ly hôn nhưng chị P đều không có mặt. Quá trình xác minh tại địa phương thì chị Dương Thị P vẫn đăng ký thường trú tại thôn P, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, anh N và chị P có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn chung sống tại thôn P, xã V, huyện C đến khoảng năm 2008 chị P, anh N đều đi làm ăn ở ngoài địa phương thỉnh thoảng vẫn về nhà; còn hai con của chị P vẫn ở nhà do bố mẹ chị P trông nom giúp. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng về làm ăn kinh tế, vợ chồng không tin tưởng nghi ngờ nhau có quan hệ bất chính với người khác nên vợ chồng xảy ra cãi vã và đã sống ly thân từ khoảng năm 2013 cho đến nay, từ khi sống ly thân thì không thấy anh N về thôn P sinh sống cùng chị P nữa. Từ khi kết hôn chị P không cắt chuyển khẩu về quê chồng mà vẫn đăng ký hộ khẩu và sinh sống tại thôn P, hiện nay chị P đi làm công ty ở ngoài địa phương thỉnh thoảng vẫn về thăm con, còn địa chỉ cụ thể của chị P thì không nắm được.
Về con chung: Anh N, chị P có 02 con là cháu Nguyễn Thị Thúy N1, sinh ngày 08/8/2006 và cháu Nguyễn Đạt Đ, sinh ngày 14/10/2012, hiện nay cháu N1 và cháu Đ đang sống cùng chị P.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ, quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tổ tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của anh Nguyễn Đạt N, cho anh Nguyễn Đạt N được ly hôn với chị Dương Thị P.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đạt Đ, sinh ngày 14/10/2012 cho chị Dương Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Đạt N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đ là 1.500.000 đồng/tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đông đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng thực hiện theo tháng.
Đối với cháu Nguyễn Thị Thúy N1, sinh ngày 08/8/2006, hiện nay cháu N1 đã đủ 18 tuổi có khả năng lao động bình thường, anh N, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Đạt N và chị Dương Thị P xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy không xem xét.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Đạt N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, chị Dương Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng.
Anh Nguyễn Đạt N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho anh ly hôn với chị Dương Thị P có đăng ký thường trú tại thôn p, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Xác minh tại địa phương cho thấy chị Dương Thị P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Chị P đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ mới nên hiện tại không rõ chị P đang ở đâu. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập nhưng chị P không đến T òa án làm việc và cũng không thông báo nơi ở và nơi làm việc, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; thực hiện các thủ tục niêm yết, tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật; tuy nhiên tại phiên tòa chị Dương Thị P vẫn vắng mặt, anh Nguyễn Đạt N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Anh Nguyễn Đạt N và chị Dương Thị P có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và Gia đình; tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp.
Kết quả xác minh tại thôn P, xã V, huyện C cho thấy: Anh N và chị P kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng về làm ăn kinh tế, vợ chồng không tin tưởng nghi ngờ nhau có quan hệ bất chính với người khác nên vợ chồng xảy ra cãi vã đến khoảng năm 2013 anh N, chị P đã sống ly thân đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống chung của vợ chồng anh N, chị P thực tế đã không còn tồn tại, cả hai đều đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đạt N, xử cho anh N được ly hôn chị Dương Thị P.
[2.2]. Về con chung: Anh Nguyễn Đạt N và chị Dương Thị P có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy N1, sinh ngày 08/8/2006 và cháu Nguyễn Đạt Đ, sinh ngày 14/10/2012. Tại biên bản ghi ý kiến của cháu Nguyễn Đạt Đ trình bày nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu Đ là 2.000.000đồng/tháng; anh N tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Đ là 1.500.000 đồng/tháng. Xét thấy anh N có nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập bình quân lao động phổ thông tại thôn Đ, xã Đ, huyện Q, thành phố Hà Nội là 6.000.000 đồng/tháng/người, việc chị P yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu Đ là cao so với mức thu nhập hàng tháng của anh N; cháu Đ có nguyện vọng được sống cùng chị P khi bố mẹ ly hôn, để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống và làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu Đ. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 118 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Nguyễn Đạt Đ, sinh ngày 14/10/2012 cho Dương Thị P trực tiếp nuôi dưỡng và buộc anh Nguyễn Đạt N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đ là 1.500.000 đồng/tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đông đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng thực hiện theo tháng. Anh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Đối với cháu Nguyễn Thị Thúy N1, sinh ngày 08/8/2006, hiện nay đã đủ 18 tuổi có khả năng lao động bình thường, anh N, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Đạt N và chị Dương Thị P xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy không xem xét.
[3] Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Đạt N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, chị Dương Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của anh Nguyễn Đạt N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Đạt N được ly hôn với chị Dương Thị P (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11 ngày 08/11/2005 tại UBND xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang).
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đạt Đ, sinh ngày 14/10/2012 cho chị Dương Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Đạt N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đ là 1.500.000 đồng/tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đông đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng thực hiện theo tháng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom đế cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của so tiền chậm trả còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Đạt N phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và tiền án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền án phí anh N phải nộp là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000001302084 ngày 30/5/2024 của Công ty cổ phần T và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000513 ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Anh N còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.
Chị Dương Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 263/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 263/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 13/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về