Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 26/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 26/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Trong ngày 09/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị P, sinh năm: 1982. ĐKHKTT: Căn 1615, Tòa T2, chung cư B, xã T, huyện G, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Số nhà C Đường L, tổ dân phố K, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Thôn S, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt chị P và anh M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2024, bản tự khai ngày 14/6/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn M kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ngày 22/02/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được 03 năm, đến năm 2010 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp, vợ chồng không chung quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong hôn nhân, đặc biệt là vấn đề làm ăn kinh tế. Mặt khác do tính chất công việc vợ chồng thường xuyên sống xa nhau nên tình cảm vợ chồng nhạt dần. Khi mâu thuẫn xảy ra, gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay, không quan tâm đến nhau. Chị xét thấy vợ chồng chị mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn. Vì vậy chị xin được ly hôn với anh M.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Lan A sinh ngày 18/10/2009. Cháu khỏe mạnh bình thường và đang ở với chị. Vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi con. Chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại chị là nhân viên kinh doanh cho Công ty S, địa chỉ: Cụm C, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, thu nhập trung bình 20.000.000đ/tháng, có đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho anh Nguyễn Văn M theo quy định. Anh M đã biết việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và triệu tập đến Tòa án nhưng anh M không nộp văn bản trình bày ý kiến của mình và cố tình không đến Tòa án làm việc. Vì vậy không có lời khai của anh M và không tiến hành hòa giải được.

Ngày 29/7/2024, Tòa án đã đến nhà anh M, nhưng không gặp được anh M, do anh M đi làm ở thành phố T. Tại biên bản xác minh ngày 29/7/2024, bà Lê Thị H là mẹ của anh M trình bày như sau:

Về hôn nhân: Anh M và chị P kết hôn năm 2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm, đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống mỗi người một nơi, dẫn đến bất đồng quan điểm sống, đặc biệt là vấn đề kinh tế. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay. Chị P xin ly hôn, gia đình đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Lan A sinh ngày 18/10/2009. Cháu đang ở với chị P.

Về tài sản chung và công nợ chung: Không có gì.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án giao, gửi các văn bản tố tụng bà là người nhận, sau đó giao lại cho anh M. Anh M đã biết việc chị P xin ly hôn, anh M có trao đổi với bà là anh bận đi làm nên không đến Tòa án làm việc được, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định. Về con chung anh M không có quan điểm gì.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Lê Thị P được ly hôn anh Nguyễn Văn M. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Lan A, sinh ngày 18/10/2009 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

+ Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa chị Lê Thị P và anh Nguyễn Văn M là đúng quy định về thẩm quyền xét xử theo khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị P có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị P và anh M.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh M là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị P và anh M đã xảy ra mâu thuẫn từ năm 2010. Trên cơ sở trình bày của đương sự và xác minh tại gia đình, địa phương xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính cách, quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong hôn nhân, đặc biệt là vấn đề làm ăn kinh tế. Mặt khác, vợ chồng thường xuyên sống xa nhau nên tình cảm phai nhạt dần. Khi mâu thuẫn xảy ra, đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã chính thức sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị P xin ly hôn, anh M đã biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án nhưng không đến Tòa án tham gia hòa giải đoàn tụ, điều đó chứng tỏ anh M không có nguyện vọng đoàn tụ, có thái độ để mặc cho Tòa án giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh M mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung đã chấm dứt từ lâu, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, xử cho chị P được ly hôn anh M.

[4] Về con chung: Chị P và anh M có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Lan A, sinh ngày 18/10/2009. Chị P có nguyện vọng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị P có nghề nghiệp, có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi con. Cháu Lan A đang ở ổn định với chị P và cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, giao cháu Lan A cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị P, nên không buộc anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và công nợ chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị P khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị P được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

2. Về con chung: Chị P và anh M có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Lan A sinh ngày 18/10/2009. Giao cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê Lan A. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, các bên đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn) mà chị P đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo Biên lai thu số 0003536 ngày 14/5/2024. Chấp nhận chị P đã nộp đủ án phí ly hôn.

5. Quyền kháng cáo: Chị P và anh M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

95
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 26/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:26/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Định - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về