TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
BẢN ÁN 25/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị T, sinh năm: 1993. ĐKHKTT: Khu phố T, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: 4 V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Anh Lê Văn T1, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Tại phiên tòa có mặt anh T1, vắng mặt chị T. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện ngày 30/5/2024, bản tự khai ngày 05/6/2024, biên bản hòa giải ngày 08/7/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lưu Thị T trình bày: Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T1 kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là thị trấn Q), huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ngày 21/11/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Tính cách của anh T1 rất gia trưởng, không tôn trọng vợ, bất kỳ việc lớn nhỏ trong gia đình anh T1 đều tự quyết định, không hỏi ý kiến của chị. Chị đã nhiều lần có ý kiến với anh T1, nhưng anh T1 vẫn không thay đổi. Vì thương 03 đứa con nên chị cố gắng nhẫn nhịn, chịu đựng. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng vào tháng 12/2023, vợ chồng cãi nhau nhiều, anh T1 còn đánh chị. Chị không thể chịu được nên phải bỏ nhà đi từ ngày 22/01/2024. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 22/01/2024 đến nay, không quan tâm đến nhau. Chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị xin được ly hôn với anh Lê Văn T1. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Thị Thu P, sinh ngày 27/11/2012, cháu Lê Văn T2, sinh ngày 21/4/2015 và cháu Lê Trí D, sinh ngày 28/8/2019. Các cháu khỏe mạnh bình thường và đang ở với anh T1. Chị có nguyện vọng được nuôi cháu D, giao cho anh T1 nuôi cháu P và cháu T2. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, chị làm thuê cho quán ăn, thu nhập trung bình 7.000.000đ/ tháng, có đủ điều kiện để nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng có tài sản chung ngôi nhà xây dựng trên đất của bố mẹ anh T1 và có nợ chung, nhưng chị và anh T1 tự thỏa thuận phân chia. Vì vậy, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và công nợ chung.
- Tại bản tự khai ngày 07/6/2024, biên bản hòa giải 08/7/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Văn T1 trình bày như sau: Về hôn nhân: Anh và chị Lưu Thị T kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là thị trấn Q), huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ngày 21/11/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn. Cuộc sống vợ chồng thì không thể tránh khỏi có lúc bất đồng quan điểm với nhau. Tuy nhiên, những mâu thuẫn đó đều không lớn, có thể giải quyết được. Đến tháng 12/2023, vợ chồng mới xảy ra mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Chị T có tham gia lớp nhảy aerobic, thường xuyên tụ tập đi nhảy, đi chơi về muộn, có hôm đi qua đêm, không quan tâm chăm lo cho chồng và các con. Anh khuyên can nhiều lần nhưng chị T không thay đổi, dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Khi cãi nhau, nóng lên anh có tát chị T. Chị T đã bỏ đi miền nam từ ngày 22/01/2024. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Anh có gọi điện bảo chị T về với con nhưng chị T không về. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không có kết quả. Chị T xin ly hôn, anh nhận thấy vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng, anh vẫn còn tình cảm với vợ và thương các con, nên anh không đồng ý ly hôn. Chị T làm đơn ly hôn là đơn phương, anh không bỏ vợ. Anh T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án xử cho ly hôn hay không cho ly hôn anh đều chấp nhận. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Thị Thu P, sinh ngày 27/11/2012, cháu Lê Văn T2, sinh ngày 21/4/2015 và cháu Lê Trí D, sinh ngày 28/8/2019. Các cháu khỏe mạnh bình thường và đang ở với anh. Nếu phải ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cháu P và cháu T2, giao cho chị T nuôi cháu D. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, anh mở cửa hàng kinh doanh đồ dân dụng, thu nhập trung bình 10.000.000đ/ tháng, có đủ điều kiện để nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng có tài sản chung ngôi nhà xây dựng trên đất của bố mẹ anh cho anh và có nợ chung, nhưng anh và chị T tự thỏa thuận phân chia. Vì vậy, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và công nợ chung.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: + Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. + Về nội dung: Căn cứ các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Lưu Thị T được ly hôn anh Lê Văn T1. Về con chung: Giao cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Thu P và cháu Lê Văn T2. Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Trí D. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật. + Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa chị Lưu Thị T và anh Lê Văn T1 là đúng quy định về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Chị Lưu Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống, chị T và anh T1 vẫn thường xảy ra mâu thuẫn, nhưng đều giải quyết được. Đến cuối năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh T1 còn đánh chị T. Trên cơ sở trình bày của đương sự và xác minh tại gia đình và địa phương xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống, lối sống của vợ chồng không hợp nhau. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị T xin ly hôn, về phía anh T1 thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng anh vẫn còn tình cảm với vợ và thương các con nên anh T1 không đồng ý ly hôn. Tòa án đã hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị T vẫn cương quyết xin ly hôn. Tại phiên hòa giải, Tòa án đã đưa ra các giải pháp, cách thức để giúp anh T1 thuyết phục chị T về đoàn tụ. Nhưng từ sau phiên hòa giải cho đến nay, anh T1 không thực hiện được giải pháp gì để níu kéo hạnh phúc. Tại phiên tòa, anh T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án xử cho ly hôn hay không cho ly hôn anh đều chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị T và anh T1 mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được, đời sống chung đã chấm dứt từ lâu, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh T1.
[4] Về con chung: Chị T và anh T1 có 03 con chung là cháu Lê Thị Thu P, sinh ngày 27/11/2012, cháu Lê Văn T2, sinh ngày 21/4/2015 và cháu Lê Trí D, sinh ngày 28/8/2019. Chị T có nguyện vọng nuôi cháu D. Anh T1 có nguyện vọng nuôi P và cháu T2. Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng nuôi con của chị T và anh T1 là chính đáng, được pháp luật bảo vệ. Bản thân chị T và anh T1 đều có việc làm, có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con. Cháu P và cháu T2 có nguyện vọng được ở với bố. Cháu D còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của các đương sự, giao cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu P và cháu T2, giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 đều không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và công nợ chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị T khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thị T được ly hôn anh Lê Văn T1.
2. Về con chung:
Chị T và anh T1 có 03 con chung là cháu Lê Thị Thu P, sinh ngày 27/11/2012, cháu Lê Văn T2, sinh ngày 21/4/2015 và cháu Lê Trí D, sinh ngày 28/8/2019. Giao cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Thu P và cháu Lê Văn T2. Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Trí D. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hai bên đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Chị T và anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, các bên đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về án phí:: Chị Lưu Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn) mà chị T đà nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo Biên lai thu số 0003546 ngày 30/5/2024. Chấp nhận chị T đã nộp đủ án phí ly hôn.
5. Quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Anh T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 25/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 25/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Yên Định - Thanh Hoá |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 09/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về