Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 13/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 13/2024/HNGĐ-ST NGÀY 31/01/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 304/2023/TLST- HNGĐ ngày 18-12-2023- về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05-01- 2024, quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16-01-2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nông Văn M, sinh năm 1986 Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái.

- Bị đơn: Chị Bùi Thị Việt T, sinh năm 1993 Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái. Các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nông Văn M trình bày:

Anh và chị Bùi Thị Việt T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 10-3-2014 tại UBND xã Bàn Đạt, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Anh M xác định tình cảm vợ chồng đã hết, anh yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn chị T.

Về con chung: Anh và chị T có ba con chung là Nông Thị Ngọc B, sinh ngày 04-12-2014; Nông Thị Ngọc V, sinh ngày 16-01-2016 và Nông Yến N, sinh ngày 30-8-2021. Hiện cả ba con đều đang được anh trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn là chị Bùi Thị Việt T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến thể hiện trong hồ sơ vụ án.

- Qua xác minh tại nơi cư trú của các đương sự xác định: Anh Nông Văn M có đăng ký kết hôn với chị Bùi Thị Việt T. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thôn Làng Mường, xã Tô Mậu, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Trong quá trình chung sống Anh M và chị T thường bất đồng về quan điểm sống. Hiện Anh M và chị T đã ly thân.

Về con chung: Anh M và chị T có ba con chung là Nông Thị Ngọc B, sinh ngày 04-12-2014; Nông Thị Ngọc V, sinh ngày 16-01-2016 và Nông Yến N, sinh ngày 30-8-2021. Hiện ba con đang sống cùng Anh M tại thôn Làng Mường, xã Tô Mậu, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng không đến giải quyết là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

+ Về hôn nhân: Anh Nông Văn M được ly hôn chị Bùi Thị Việt T.

+ Về con chung: Giao ba con chung là Nông Thị Ngọc B, sinh ngày 04- 12-2014; Nông Thị Ngọc V, sinh ngày 16-01-2016 và Nông Yến N, sinh ngày 30-8-2021 cho anh Nông Văn M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Chị Bùi Thị Việt T không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về án phí: Anh M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn chị Bùi Thị Việt T có nơi cư trú tại xã Tô Mậu, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa, Anh M vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Anh Nông Văn M và chị Bùi Thị Việt T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bàn Đạt, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên ngày 10-3-2014 là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu có trong hồ sơ cho thấy, sau khi kết hôn Anh M và chị T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu mẫu, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa Anh M và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Anh M, cho Anh M được ly hôn chị T.

[3] Về con chung: Anh M và chị T có ba chung là Nông Thị Ngọc B, sinh ngày 04-12-2014, Nông Thị Ngọc V, sinh ngày 16-01-2016 và Nông Yến N, sinh ngày 30-8-2021. Ly hôn Anh M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Anh M và chị T hiện đã ly thân, cả ba con đều đang được Anh M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu Vi và cháu Bích đều có nguyện vọng được ở với bố. Do đó, để đảm bảo quyền, lợi ích, nguyện vọng và đảm bảo sự ổn định cuộc sống của các con nên giao ba con cho Anh M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh M không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Anh M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Anh Nông Văn M được ly hôn chị Bùi Thị Việt T.

2. Về con chung: Giao ba con chung là Nông Thị Ngọc B, sinh ngày 04-12- 2014; Nông Thị Ngọc V, sinh ngày 16-01-2016 và Nông Yến N, sinh ngày 30-8- 2021 cho anh Nông Văn M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Chị Bùi Thị Việt T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nông Văn M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2023/0001592 ngày 18-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Anh M đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

99
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 13/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:13/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Yên - Yên Bái
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về