TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG
BẢN ÁN 125/2024/HNGĐ-ST NGÀY 27/05/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 54/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/5/2024, giữa:
* Nguyên đơn: Chị Phùng Mùi L, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Chị Phùng Mùi L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Anh Triệu Văn T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Anh Triệu Văn T vắng mặt lần 02 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phùng Mùi L trình bày: Chị và anh Triệu Văn T được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng hay cãi vã, chị bị anh T đánh đập, chửi bới. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình và thôn hòa giải nhưng không thành. Từ tháng 3 năm 2018 đến nay, chị và anh T đã sống ly thân, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Triệu Văn T. Quá trình chung sống, chị và anh T có 02 người con chung tên là Triệu Văn M, sinh ngày 14/4/2012 và Triệu Phúc K, sinh ngày 10/01/2015. Về con chung, chị đề nghị anh T nuôi dưỡng cả hai cháu và chị không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, vay nợ chung, chị xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai bị đơn anh Triệu Văn T trình bày: Anh và chị Phùng Mùi L được tự nguyện tìm hiểu, đã được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 15/6/2012 tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi cưới, vợ chồng anh sinh sống tại thôn P, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống vợ chồng anh sống hòa thuận đến năm 2018 thì chị L đi làm công nhân và không về chung sống với anh. Vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì, chị L tự ý bỏ đi. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng anh đã không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Vợ chồng anh sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay chị L đề nghị giải quyết ly hôn với anh, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, tuy nhiên anh không nhất trí ly hôn với chị Phùng Mùi L. Quá trình chung sống, anh và chị L có 02 người con chung tên là Triệu Văn M, sinh ngày 14/4/2012 và Triệu Phúc K, sinh ngày 10/01/2015. Nếu phải ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và vay nợ chung, anh xác định không có, nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên toà: Nguyên đơn chị Phùng Mùi L vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị L giữ nguyên quan điểm khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Triệu Văn T. Về con chung, chị nhất trí để anh T nuôi dưỡng hai con chung và không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung chị L xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Triệu Văn T vắng mặt, không có lý do, anh không có văn bản hay ý kiến có thay đổi hay bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 39, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Mùi L, cho chị Phùng M1 L được ly hôn anh Triệu Văn T;
Về con chung: Giao 02 con chung là Triệu Văn M, sinh ngày 14/4/2012 và Triệu Phúc K, sinh ngày 10/01/2015 cho anh Triệu Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Phùng Mùi L không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Phùng Mùi L và anh Triệu Văn T đều xác định không có, nên không đề nghị xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phùng Mùi L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phùng Mùi L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Triệu Văn T, nơi cư trú tại thôn P, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; thực hiện các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phùng Mùi L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Triệu Văn T đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Phùng Mùi L và anh Triệu Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang ngày 15/6/2012, do vậy quan hệ hôn nhân của chị L và anh T là hợp pháp.
Chị L cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là hay cãi vã, anh T có đánh đập, chửi bới chị, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không khắc phục được. Còn anh T xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì, chị L tự ý bỏ đi, không về chung sống với anh từ năm 2018 đến nay. Mặc dù, nguyên đơn và bị đơn trình bày nguyên nhân mâu thuẫn khác nhau nhưng thực tế cả chị L và anh T đều thừa nhận từ năm 2018 chị L và anh T không còn quan hệ về tình cảm, kinh tế và sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị L đề nghị giải quyết ly hôn với anh T, anh T không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy việc anh T không nhất trí ly hôn với chị L không vì tình cảm yêu thương vợ chồng mà chỉ muốn ràng buộc nhau.
Kết quả xác minh tại địa phương cho thấy chị L và anh T hiện không còn chung sống với nhau, trên thực tế quan hệ vợ chồng giữa chị L và anh T đã không còn tồn tại từ năm 2018 đến nay.
Như vậy tình trạng hôn nhân của chị L, anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Mùi L, xử cho chị L được ly hôn với anh T.
[2.2] Về con chung: Chị Phùng Mùi L và anh Triệu Văn T có 02 người con chung là Triệu Văn M, sinh ngày 14/4/2012 và Triệu Phúc K, sinh ngày 10/01/2015. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị L trình bày nhất trí cho anh T nuôi dưỡng cả hai cháu và không cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai, anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình xác minh và lấy ý kiến của cháu M, cháu K, thì hiện nay 02 con chung đang sinh sống cùng anh T và đều cùng có nguyện vọng được ở cùng anh T. Hội đồng xét xử nhận thấy, chị L và anh T đều có ý kiến để anh T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, đồng thời cháu M, cháu K đều có nguyện vọng được ở cùng anh T. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao 02 con chung là cháu M, cháu K cho anh Triệu Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Phùng Mùi L và anh Triệu Văn T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Phùng Mùi L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Triệu Văn T không phải chịu án phí.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phùng Mùi L, cho chị Phùng Mùi L được ly hôn anh Triệu Văn T.2. Về con chung: Giao 02 con chung là Triệu Văn M, sinh ngày 14/4/2012 và Triệu Phúc K, sinh ngày 10/01/2015 cho anh Triệu Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Phùng Mùi L không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Phùng Mùi L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000001049621 ngày 18/3/2024 của Công ty cổ phần T1 và biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001609 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chị L đã nộp đủ án phí.
Anh Triệu Văn T không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 125/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 125/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 27/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về