TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 07/2024/HNGĐ-ST NGÀY 21/02/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 279/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2023/QĐXX-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thu P, sinh năm 1992; HKTT: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ liên hệ: Số D, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, còn bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 8 năm 2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị Thu P trình bày:
Về hôn nhân: Chị P và anh Đ tổ chức đám cưới năm 2007 và đến năm 2011 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được UBND xã Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 166 vào ngày 21/9/2011. Sau đám cưới vợ chồng sống chung nhà với cha mẹ chồng được khoảng 02 tháng, sau đó vợ chồng về bên nhà cha mẹ ruột của chị P sinh sống. Đến năm 2010 thì vợ chồng được gia đình chồng cho đất cất nhà tại địa chỉ C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Sống chung đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ không lo tu chí làm ăn để lo cho gia đình mà ngược lại còn thường xuyên uống rượu say, xỉn lại chửi vợ con, cha mẹ vợ và còn đánh đập chị P bầm mình, bầm mẩy. Do anh Đ không thay đổi được tính tình nên từ giữa năm 2018, chị P đã dẫn con gái về nhà cha mẹ chị P sinh sống cho đến nay. Từ khi vợ chồng sống xa nhau, vợ chồng có tìm cách để hàn gắn tình cảm của vợ chồng nhưng không được. Nay chị P xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị P yêu cầu xin ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Quá trình sống chung chị P và anh Đ có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 15/6/2008 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 05/5/2011. Từ khi vợ chồng sống xa nhau cháu N do chị P nuôi dưỡng còn cháu K do anh Đ nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi con tên N, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng và đồng ý giao con tên K cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị P không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Có một căn nhà lắp ráp được nhà nước cho vợ chồng và cất trên đất của cha mẹ chồng (giấy đất cha mẹ chồng còn đứng tên). Nay ly hôn chị P không yêu cầu chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Ngọc Đ đã được Toà án giao thông báo thụ lý vụ án nhưng anh Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị P. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ anh Đ để tham gia phiên hòa giải nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng đề nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa. Riêng bị đơn đã được toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét lời trình bày của chị Võ Thị Thu P và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Chị P và anh Đ tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân giữa chị P và anh Đ là hợp pháp. Trong thời gian chung sống chị P và anh Đ đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn đoàn tụ được. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị P và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Thu P.
Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 15/6/2008 cho chị P được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 05/5/2011 cho anh Nguyễn Ngọc Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do chị P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không có yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Võ Thị Thu P có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ, đồng ý giao con chung cho anh Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, về tài sản và nợ không yêu cầu Toà án giải quyết nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” và bị đơn cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại khoản 1, Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn là anh Nguyễn Ngọc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt đối với anh Đ.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Võ Thị Thu P và anh Nguyễn Ngọc Đ tổ chức đám cưới vào năm 2007 trên cơ sở tự nguyện. Đến năm 2011 đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 166 vào ngày 21/9/2011 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh Đ là hợp pháp, được pháp luật công nhân. Theo chị P trình bày thì vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ không lo tu chí làm ăn để lo cho gia đình mà ngược lại còn thường xuyên uống rượu say, xỉn lại chửi vợ con, cha mẹ vợ và còn đánh đập chị P. Do anh Đ không thay đổi được tính tình nên từ giữa năm 2018, chị P đã dẫn con gái về nhà cha mẹ chị P sinh sống cho đến nay. Từ khi vợ chồng sống xa nhau đến nay vợ chồng có tìm cách để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay do tình cảm của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị P. Như vậy, việc vắng mặt của anh Đ được xem là từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình và bỏ mặc cho cuộc hôn nhân này không mong muốn Tòa án hòa giải để đoàn tụ.
Như vậy, Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị P và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Thu P đối với anh Nguyễn Ngọc Đ.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống theo chị P trình bày thì vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 15/6/2008 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 05/5/2011. Từ khi chị P và anh Đ sống xa nhau con chung tên N do chị P nuôi dưỡng. Còn con chung tên K do anh Đ nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung N và đồng ý giao con chung tên K cho anh Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Còn anh Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với con chung. Tuy nhiên, xét cháu N đang sống với chị P và cháu K đang sống chung với anh Đ từ khi chị P và anh Đ sống xa nhau cho đến nay. Nhằm để ổn định cuộc sống cho các cháu, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 15/6/2008 cho chị P được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 05/5/2011 cho anh Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Còn anh Đ không có văn bản trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung: Chị P khẳng định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn anh Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.5] Về nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn anh Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị P phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000đ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
[3] Xét lời trình bày và đề nghị của Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò và có căn cứ, phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Thu P được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 15/6/2008 cho chị Võ Thị Thị Thu P được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Giao con chung Nguyễn Tuấn Kiệt, sinh ngày 05/5/2011 cho anh Nguyễn Ngọc Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở và người trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
6. Về án phí: Chị Võ Thị Thu P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị P đã nộp theo biên lai số 0003806 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
7. Trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án hôm nay đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo. Riêng đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a , 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 07/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 07/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lấp Vò - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 21/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về