TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 118/2024/HNGĐ-ST NGÀY 07/08/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 193/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Kiều O, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Tổ A, Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Lê Minh H, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Tổ A, Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Chị O, anh H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Đặng Kiều O trình bày:
Về hôn nhân: Chị O, anh H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H không quan tâm chăm sóc gia đình, thường hay bỏ nhà đi chơi, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh H không thay đổi. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm yêu thương với anh H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Minh H.
Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Lê Thư K, sinh ngày 03/3/2013 và Lê Bảo A, sinh ngày 16/11/2016. Khi ly hôn chị O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu K và A, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh H không có tài sản chung và không nợ của tổ chức, cá nhân nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Lê Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc nên không có lời trình bày.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên Tòa:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị O. Cho chị Đặng Kiều O được ly hôn với anh Lê Minh H.
- Về con chung: Giao hai cháu Lê Thư K, sinh ngày 03/3/2013 và Lê Bảo A, sinh ngày 16/11/2016 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị O trình bày không có nợ chung, anh H không đến Tòa làm việc nên không có lời khai nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị O phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Lê Minh H cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật: Chị O yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về xác định tư cách đương sự: Chị Đặng Kiều O là nguyên đơn, anh Lê Minh H là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Chị O có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[5] Về nội dung vụ án:
[5.1] Về hôn nhân: Chị O, anh H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, hôn nhân giữa chị O, anh H là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Sau khi kết hôn, chị O và anh H sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị O là do anh H không có trách nhiệm và quan tâm chăm sóc gia đình do đó tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, hiện nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng việc này phù hợp với biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Minh H mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không đến Tòa án làm việc, điều này thể hiện anh H không có thiện chí để hòa giải hàn gắn để vợ chồng về sống đoàn tụ.
Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị O, anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Kiều O là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5.2] Về con chung: Chị O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Lê Thư K, sinh ngày 03/3/2013 và Lê Bảo A, sinh ngày 16/11/2016, các cháu K, A cũng có nguyện vọng muốn sống cùng mẹ. anh H vắng mặt nên không có ý kiến về vấn đề nuôi con. Do đó, giao cháu Lê Thư K và Lê Bảo A cho chị Đặng Kiều O trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
[5.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Kiều O không yêu cầu anh Lê Minh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
[5.4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Kiều O trình bày không có, anh Lê Minh H vắng mặt không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Đặng Kiều O phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Kiều O.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Kiều O được ly hôn với anh Lê Minh H.
2. Về con chung: Giao hai cháu Lê Thư K, sinh ngày 03/3/2013 và Lê Bảo A, sinh ngày 16/11/2016 cho chị Đặng Kiều O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.
Anh Lê Minh H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Khi cần thiết chị Đặng Kiều O và anh Lê Minh H được quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Chị Đặng Kiều O phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị O đã nộp theo biên lai số 0013105 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú. Chị Đặng Kiều O đã nộp đủ án phí.
6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung số 118/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 118/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tân Phú - Đồng Nai |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 07/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về