Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung số 04/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NS, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 04/2024/HNGĐ-ST NGÀY 21/02/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NS, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số:

127/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phan Văn Qu, sinh năm: 1976. Có mặt. Địa chỉ: Thôn TL 1, xã LS, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1984. (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn TL 1, xã LS, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 26 tháng 6 năm 2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn là ông Phan Văn Qu trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị M sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lương Sơn, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 09 ngày 15/3/2003. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài từ đó cho đến nay, không còn quan tâm lẫn nhau, hai người không còn sống chung, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên ông xin ly hôn với bà M.

- Về con chung: Có 02 con chung, tên con là Phan Thị Phương L, sinh ngày 08/10/2003; Phan Hoàng Gia Kh, sinh ngày 18/9/2011; Trường hợp được Tòa án giải quyết ly hôn, ông đồng ý theo nguyện vọng của cháu K. Còn cháu Lan đã lớn và hiện ông sđang chu cấp theo học đại học nên không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Hai người đã thỏa thuận chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Phan Văn Qu có mặt, quá trình giải quyết ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị M: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay. Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà M nhưng bà M vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn là ông Q chấp hành đúng quy định của pháp luật. Còn bị đơn là bà M mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà M vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:

Tình trạng hôn nhân giữa ông Q và bà M đã mâu thuẫn trầm trọng. Yêu cầu xin ly hôn của ông Q có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 1 Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Qu, giải quyết cho ly hôn giữa ông Phan Văn Qu được ly hôn với bà Nguyễn Thị M.

2. Về con chung: Chấp nhận giao 01 con chung là Phan Hoàng Gia Kh cho mẹ là bà Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, do bà M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu nên không xét.

4. Về án phí: Ông Phan Văn Qu chịu án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án mà ông Q đã nộp theo biên lai số 0006291 ngày 06/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Phan Văn Qu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị M. Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định: Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị M có địa chỉ cư trú tại Thôn TL 1, xã LS, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện NS.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Bà Nguyễn Thị M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy báo lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng, quan hệ hôn nhân giữa ông Phan Văn Qu và bà Nguyễn Thị M là hôn nhân hợp pháp. Hiện nay mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm nhau nữa. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên hay cải vã, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nay ông Q đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà M.

Tại biên bản xác minh (BL 10) ngày 04/12/2023 đối với bà mai, mặc dù, Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bà M tham gia phiên tòa nhưng bà M vẫn vắng mặt không có lý do. Chứng tỏ bà M đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình, bà M đã không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Q. Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận:

Tình trạng hôn nhân giữa ông Q và bà M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà M là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình và phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, nên yêu cầu ly hôn của ông Q được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Xét nguyện vọng của cháu Phan Hoàng Gia Kh và hiện cháu K chung sống với bà M nên giao cho bà M trực tiếp nuôi 01 con chung Phan Hoàng Gia Kh, sinh ngày 18/9/2011; Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng, bà M có đủ khả năng và điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đảm bảo được sự phát triển của cháu, phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị M không yêu cầu ông Phan Văn Qu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận và không buộc ông Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Ông Phan Văn Qu phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 và 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sửdụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Qu. Ông Phan Văn Qu được ly hôn bà Nguyễn Thị M.

2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị M là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 01 con chung, tên là: Phan Hoàng Gia Kh, sinh ngày 18/9/2011;

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị M không yêu cầu nên ông Phan Văn Qu không phải cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chung; Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

4. Về án phí: Ông Phan Văn Qu phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) ông Q đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0006291 ngày 06/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NS, tỉnh Ninh Thuận. Ông Q đã nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai Nguyên đơn có mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ Bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

93
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung số 04/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:04/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Sơn - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về