Bản án về ly hôn số 99/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 99/2024/HNGĐ-ST NGÀY 27/08/2024 VỀ LY HÔN

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Cẩm G, sinh năm 1991 Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Phan Quốc K, sinh năm 1992 Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Huỳnh Thị Cẩm G trình bày như sau:

Chị Huỳnh Thị Cẩm G (gọi tắt là chị G) và anh Phan Quốc K (gọi tắt là anh K) chung sống với nhau vào năm 2011 hôn nhân tự nguyện được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào ngày 18 tháng 7 năm 2012 theo quy định.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do anh K có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Chị G đã nhiều lần khuyên chồng quay về chung sống để lo cho con cái nhưng anh K vẫn không từ bỏ mà còn chuyển đến chung sống với người phụ nữ đó. Chị G nghe theo lời cha mẹ chồng tiếp tục sống bên chồng khoảng hai năm để mong chồng nghĩ lại mà quay về với vợ con nhưng anh K không trở về nên chị G đã mang con nhỏ ra bên ngoài sống và sống ly thân với anh K từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc và không thể duy trì đời sống vợ chồng với anh K nên chị G yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị G xác định vợ chồng có hai người con chung tên Phan Thị Huỳnh N, sinh ngày 21/8/2012 và Phan Thị Huỳnh M, sinh ngày 02/8/2014 hiện đang sống với anh K. Khi ly hôn chị G đồng ý giao các con chung cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng và chị G không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung của vợ chồng và nợ chung của vợ chồng: Chị G xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Phan Quốc K vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Cẩm G.

Ý kiến trình bày của con chung: Cháu Phan Thị Huỳnh N và cháu Phan Thị Huỳnh M có nguyện vọng được sống với cha sau khi cha mẹ ly hôn.

Thu thập chứng cứ: Chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm Giấy chứng nhận kết hôn (bản trích lục); giấy căn cước công dân (Bản công chứng); giấy khai sinh của con chung vợ chồng. Bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn anh Phan Quốc K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tai phiên tòa đề nghị áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị G được ly hôn với anh K; về con chung giao cháu Phan Thị Huỳnh Nvà cháu Phan Thị Huỳnh M cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng, đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa anh Kh đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh K.

[2] Về nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật: Chị G yêu cầu ly hôn với anh K và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Xét yêu cầu khởi liện xin ly hôn của chị G, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị G và anh K chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã nhiều lần triệu tập nhưng anh K đều vắng mặt. Qua lời trình bày của đương sự và kết quả xác minh từ chính quyền địa phương có cơ sở xác định đời sống hôn nhân của chị G và anh K đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh K có quan hệ ngoại tình, mặc dù chị G đã khuyên ngăn và tạo điều kiện để anh K quay về với vợ con nhưng anh K không trở về chung sống với vợ mà tiếp tục chọn sống với người phụ nữ mà mình đã ngoại tình. Hiện anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 không còn tình cảm thương yêu và sự quan tâm đến nhau. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị G giải quyết cho chị G ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị G và anh K chung sống có hai người con chung cháu Phan Thị Huỳnh N, sinh ngày 21/8/2012 và Phan Thị Huỳnh M, sinh ngày 02/8/2014. Khi vợ chồng ly thân con chung sống với chị G, tuy nhiên từ năm 2021 do chị G chuyển đổi nơi làm việc nên các con sống với cha và ông bà nội. Hiện nay các con của anh chị có cuộc sống sinh hoạt ổn định, có sự trông nom hỗ trợ của ông bà nội đồng thời các cháu cũng có nguyện vọng được sống với cha sau khi cha mẹ ly hôn. Để ổn định cuộc sống sinh hoạt của con chung Hội đồng xét xử thống nhất giao các cháu Phan Thị Huỳnh N và cháu Phan Thị Huỳnh M cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng sau khi anh chị ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung của vợ chồng: Chị G xác định vợ chồng không có tài sản chung, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung của vợ chồng: Chị G xác định không có, không ai có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị G là nguyên đơn có trách nhiệm nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[4] Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Cẩm G.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Cẩm G và anh Phan Quốc K.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Huỳnh N, sinh ngày 21/8/2012 và cháu Phan Thị Huỳnh M, sinh ngày 02/8/2014 cho anh Phan Quốc K tiếp tục nuôi dưỡng sau khi chị Huỳnh Thị Cẩm G và anh Phan Quốc K ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Huỳnh Thị Cẩm G xác định vợ chồng không có tài sản chung, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị Huỳnh Thị Cẩm G xác định không có, không ai có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Cẩm G có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003250 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Huỳnh Thị Cẩm G đã nộp đủ án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 27/8/2024, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

101
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 99/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:99/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Biên - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về