TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, TỈNH AN GIANG
BẢN ÁN 86/2022/HNGĐ-ST NGÀY 09/12/2022 VỀ LY HÔN
Ngày 09 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 312/2022/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2022 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2022/QĐXX- DS ngày 15 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Néang P, sinh năm: 2002; địa chỉ cư trú: Tổ 01, đường Thất Sơn, khóm AB, thị trấn BC, huyện T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Chau R, sinh năm: 1997; địa chỉ cư trú: Tổ 07, ấp ST, xã LT, huyện TT, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa, bà P có mặt; ông R vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 16/9/2022 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, bà Néang P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông R được hình thành là do tự tìm hiểu, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2018, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã LT, huyện TT, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07 ngày 19/02/2021. Cuộc sống chung hạnh phúc được đến tháng 02/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông R thay đổi bản tính, không quan tâm đến gia đình, bỏ bê vợ con, ăn chơi và quen biết với người phụ nữa khác rồi ly thân nhau từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình có hàn gắn nhưng không thành. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông R.
Về quan hệ con chung: Bà với ông R có 01 con chung tên Néang Chanh RR, sinh ngày 04/6/2019, hiện con chung là do bà nuôi. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông R không có tài sản chung.
Về quan hệ nợ chung: Bà với ông R không có nợ chung.
Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Chau R để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, bà P bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông R đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Bà P – ông R chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông R quen biết với người khác, bỏ bê vợ con và ly thân, gia đình có hàn gắn nhưng không thành…nên bà P xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung, bà P yêu cầu nuôi, ông R không có ý kiến, yêu cầu của bà P là có căn cứ. Về tài sản chung và nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên.
HĐXX nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà P khởi kiện: “Tranh chấp ly hôn” với ông R, là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông R có địa chỉ cư trú tại xã LT, huyện TT, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Ông R được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà P – ông R kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2018, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số số 07 ngày 19/02/2021, nên xem là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, bà P bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông R quen biết và chung sống với người phụ nữ khác rồi bỏ bê vợ con…bà và ông R ly thân đã lâu, gia đình đứng ra hàn gắn nhưng không thành… Qua trình bày của bà P, mặc dù ông R vắng mặt, nhưng tại biên bản xác minh vào ngày 10/11/2022 của Tòa án thể hiện: Vợ chồng P – R mâu thuẫn nhau từ 08 tháng nay, khi mâu thuẫn thì R lên Bình Dương làm công nhân và vợ chồng không quan tâm nhau từ đó, được biết hiện ông R cũng quen biết và chung sống với người phụ nữ khác, nên khã năng đoàn tụ chung sống lại với nhau là không thể… Với chứng cứ thu thập vừa nêu, xét mâu thuẫn giữa bà P – ông R đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.
[3]. Về quan hệ con chung: Xét thấy, cháu Néang Chanh RR từ trước nay do bà P nuôi, tình cảm giữa cháu RR với bà P đã thật sự gắn bó. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của cháu RR cũng như tạo điều kiện cho cháu phát triển tốt về sau, HĐXX nghĩ nên chấp nhận giao cháu RR cho bà P tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.
HĐXX cũng giải thích cho bà P biết: Trong thời gian nuôi con, bà P cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông R trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà P không yêu cầu nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.
[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà P khai bà với ông R không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do ông R vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này ông R có chứng cứ khác chứng minh có tài san chung, có nợ chung và ông R có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Bà P là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Néang P.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Néang P được ly hôn với ông Chau R.
Về quan hệ con chung: Bà Néang P tiếp tục nuôi con chung tên Néang Chanh RR, sinh ngày 04/6/2019.
Công nhận tự nguyện của bà Néang P không yêu cầu ông Chau R cấp dưỡng nuôi con.
Bà P cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông R trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Bà Néang P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002504 ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT (bà P nộp đủ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/12/2022), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
Bản án về ly hôn số 86/2022/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 86/2022/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tịnh Biên - An Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 09/12/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về