TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 83/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ LY HÔN
Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 158/2024/TLSTHNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Yến L, sinh năm 1993; HKTT: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Số B lô F, đường A, ấp B, xã T, huyện B, thành phố H (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 10/7/2024 bà Nguyễn Yến L trình bày:
Vào năm 2013, bà và ông T kết hôn với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 10/4/2013. Sau khi kết hôn, bà và ông T sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn vì ông T không quan tâm, chăm sóc gia đình và đã ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Nay bà L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Trong quá trình chung sống, bà và ông T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn T không có văn bản phúc đáp đối với yêu cầu của bà Nguyễn Yến L.
- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Yến L + Về con chung: Bà Nguyễn Yến L xác định trong thời gian chung sống bà Nguyễn Yến L và ông Nguyễn Văn T không có con chung nên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Yến L xác định trong thời gian chung sống bà Nguyễn Yến L và ông Nguyễn Văn T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn T. Bên cạnh đó, bà Nguyễn Yến L vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Yến L.
[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Yến L và ông Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 10/4/2013. Hôn nhân của ông bà tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Yến L và ông Nguyễn Văn T là hợp pháp.
Bà Nguyễn Yến L vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Xét yêu cầu của bà Nguyễn Yến L Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng về những sinh hoạt trong cuộc sống. Từ khi nguyên đơn chính thức yêu cầu xin ly hôn cho đến nay, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý cho ông Nguyễn Văn T và giữa bà Nguyễn Yến L, ông Nguyễn Văn T từ khi sống ly thân năm 2023 cho đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với biên bản xác minh của Toà án. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Yến L và ông Nguyễn Văn T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Yến L được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
[3] Về con chung: Bà Nguyễn Yến L xác định trong thời gian chung sống bà Nguyễn Yến L và ông Nguyễn Văn T không có con chung nên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Yến L cho rằng trong thời gian chung sống bà và ông Nguyễn Văn T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Yến L cho rằng bà và ông Nguyễn Văn T không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Bà Nguyễn Yến L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Yến L và ông Nguyễn Văn T được ly hôn.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Yến L xác định trong thời gian chung sống bà Nguyễn Yến L và ông Nguyễn Văn T không có con chung nên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
3. Về nợ chung: Bà Nguyễn Yến L xác định trong thời gian chung sống bà Nguyễn Yến L và ông Nguyễn Văn T không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Yến L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005669 ngày 11/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Nguyễn Yến L nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm Ông Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6. Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Bản án về ly hôn số 83/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 83/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Tú - Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 09/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về