Bản án về ly hôn số 79/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 79/2024/HNGĐ-ST NGÀY 29/03/2024 VỀ LY HÔN

Ngày 29-3-2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội; Mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 16-01-2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 67/2024/QĐXX-ST ngày 15-3-2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐ-HPT ngày 22-3-2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1980. Căn cước công dân số 00119005xxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28-12-2023; Địa chỉ nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Cụm A, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm: 1981. CMND số 11166xxxx do Công an tỉnh H cấp ngày 01-5-2001. Hộ chiếu số C686xxxx do Cục Q cấp ngày 04-3-2019; Địa chỉ nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Cụm A, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ nơi sinh sống và làm việc hiện nay: Hàn Quốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị Nguyễn Thị L kết hôn với anh Nguyễn Tiến D trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01-4-2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình anh D tại cụm A, xã T, huyện Đ. Quá trình chung sống, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do khác biệt về tính cách, quan điểm sống khác nhau. Vợ chồng thường cãi vã, mâu thuẫn căng thẳng nguyên nhân vì cả lý do kinh tế và tình cảm. Năm 2018, chị L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2019, anh D cũng đi lao động tại Hàn Quốc, từ đó đến nay anh D chưa về lần nào. Vợ chồng ít liên hệ với nhau trừ những lúc trao đổi tin tức về con chung. Năm 2023, chị L đã trở về Việt Nam sinh sống và làm việc. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng sống xa cách đã lâu, mỗi người có cuộc sống riêng nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tiến D.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Mai Phương U, sinh ngày 05-10-2008; cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 07-7-2010 và cháu Nguyễn Thị Thảo N, sinh ngày 10-8-2013. Hiện cả ba con chung đều đang chung sống với chị L. Vợ chồng ly hôn, chị Nguyễn Thị L có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả ba con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Tiến D đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị L xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Bị đơn là anh Nguyễn Tiến D vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Quá trình xác minh tại Cục Q - Bộ C xác nhận: Anh Nguyễn Tiến D đã xuất cảnh gần nhất ngày 29-3-2019 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh; hiện anh D ở nước ngoài, không xác định được địa chỉ cụ thể nơi anh D sinh sống và làm việc.

Tòa án đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh D là bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952; Nơi thường trú: cụm A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Bà Đ trình bày xác nhận: Việc anh D và chị L kết hôn và chung sống như chị L trình bày là đúng. Anh Dũng và chị L kết hôn năm 2008. Từ năm 2016 đến năm 2023, chị L đi lao động tại Đài Loan. Anh D1 đi lao động tại Hàn Quốc từ năm 2019, theo hình thức đi du lịch sau đó ở lại Hàn Quốc từ đó đến nay chưa trở về Việt Nam. Gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh D1 ở Hàn Quốc, nhưng vẫn thường xuyên liên hệ với anh D1 qua điện thoại, zalo. Bà Đ đồng ý nhận văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết sẽ gửi, thông tin và thông báo cho anh D1 các văn bản của Tòa án.

Anh Dũng vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

* Xác minh tại UBND xã T, thể hiện: Anh Nguyễn Tiến D và chị Nguyễn Thị L có đăng ký kết hôn ngày 01-4-2008, vào sổ số 49, quyển 1 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội). Anh D và chị L hiện có cùng hộ khẩu thường trú tại cụm A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Theo quản lý nhân khẩu, vợ chồng anh D1 chị L có 03 con chung là các cháu Nguyễn Mai Phương U, sinh ngày 05-10-2008; Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 07-7-2010 và Nguyễn Thị Thảo N, sinh ngày 10-8-2013.

* Xác minh tại Công an xã T, thể hiện: Anh Nguyễn Tiến D, sinh ngày 23-5-1981, CCCD số 00108101xxxx và chị Nguyễn Thị L, CCCD số 0011900xxxx có cùng hộ khẩu thường trú tại cụm A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Hiện anh D không sinh sống tại địa phương. Việc anh D có đi nước ngoài hay không thì anh D và gia đình không khai báo với công an xã.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hợp lệ.

- Bị đơn là anh Nguyễn Tiến D ở nước ngoài, vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:

Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Tiến D là người có quốc tịch Việt Nam, hiện ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo thực hiện trước và tại phiên tòa. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn đã đảm bảo thủ tục theo quy định.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thị L kết hôn với anh Nguyễn Tiến D là tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01-4-2008 tại UBND xã T, huyện Đ nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Chị L đi lao động tại Đài Loan từ năm 2016 đến năm 2023. Năm 2019, anh D đã đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ đó đến nay chưa trở về Việt Nam. Vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không tồn tại nhiều năm nên việc chị L khởi kiện xin ly hôn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L và giải quyết cho chị L được ly hôn anh D.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Mai Phương U, sinh ngày 05-10-2008; cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 07-7-2010 và cháu Nguyễn Thị Thảo N, sinh ngày 10-8-2013. Hiện cả 03 con chung đều đang ở với chị L tại Việt Nam. Anh D đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài. Đề nghị Tòa án giao các con chung cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại công khai tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng.

Anh Nguyễn Tiến D là công dân Việt Nam, hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Anh D đã xuất cảnh gần nhất ngày 29-3-2019 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành làm việc với người thân của anh Nguyễn Tiến D để xác minh làm rõ và tống đạt văn bản tố tụng cho anh D. Chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Căn cứ quy định tại các Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự và Công văn 253/TANDTC-PC ngày 26-11-2018 của Tòa án nhân dân tối cao, thì Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung.

[2.1]. Về tình cảm: Anh Nguyễn Tiến D và chị Nguyễn Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01-4-2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà gia đình anh D tại cụm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội). Đến năm 2016, thì chị L đi Đài Loan lao động; năm 2019 anh D cũng đi Hàn Quốc. Vợ chồng không thực tế chung sống trong thời gian dài, không quan tâm đến nhau, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã.

Theo Công văn số 1865/QLXNC-P5 ngày 23-01-2024 của Cục Q - Bộ C, thể hiện nội dung: “Có trường hợp Nguyễn Tiến D, sinh ngày 23-5-1981 tại Hà Nội; khai hộ khẩu thường trú tại: Cụm A, T, Đ, Hà Nội; đã sử dụng hộ chiếu số C6867713 để xuất cảnh ngày 29-3-2019 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”.

Tòa án đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh Nguyễn Tiến D là bà Nguyễn Thị Đ, bà Đ xác nhận: Anh Nguyễn Tiến D đi lao động ở nước ngoài từ năm 2019, đến nay chưa về là đúng; anh D vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình qua điện thoại nhưng gia đình không biết địa chỉ cụ thể nơi anh D sinh sống và làm việc. Vợ chồng anh Nguyễn Tiến D, chị Nguyễn Thị L đã không chung sống cùng nhau từ khoảng năm 2016 khi chị L đi lao động ở Đài Loan. Việc chị L xin ly hôn, bà Đ không có ý kiến vì đây là việc riêng của anh chị. Bà Đ đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và cam kết sẽ thông báo, gửi cho anh D các văn bản của Tòa án.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Tiến D và chị Nguyễn Thị L thực tế đã không còn tồn tại từ năm 2016 thời điểm chị L đi lao động tại Đài Loan. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay và không còn liên hệ gì; đời sống chung vợ chồng thực tế không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L với anh Nguyễn Tiến D là có căn cứ được chấp nhận.

Căn cứ quy định tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L và giải quyết cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Tiến D.

[2.2]. Về con chung: Anh Nguyễn Tiến D và chị Nguyễn Thị L có 03 con chung là các cháu Nguyễn Mai Phương U, sinh ngày 05-10-2008; Cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 07-7-2010 và cháu Nguyễn Thị Thảo N, sinh ngày 10-8-2013. Hiện cả ba con chung đều đang chung sống với chị L.

Khi ly hôn, chị L có nguyện vọng được nuôi cả ba con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con; hơn nữa, hiện anh D đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Căn cứ quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy giao cả 03 con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Nguyễn Thị L không yêu cầu anh Nguyễn Tiến D đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án xét tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D cho đến khi chị L có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

[2.3]. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị L xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện về việc phân chia tài sản chung hoặc nghĩa vụ chung về tài sản sau ly hôn cho các đương sự để được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác (nếu có).

[3]. Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thì chị Nguyễn Thị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 464, Điều 469 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L xin ly hôn anh Nguyễn Tiến D. Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Tiến D chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Xác định chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Tiến D có 03 con chung là cháu Nguyễn Mai Phương U, sinh ngày 05-10-2008; Cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 07-7-2010 và cháu Nguyễn Thị Thảo N, sinh ngày 10-8-2013. Giao chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung và tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Tiến D cho đến khi chị Nguyễn Thị L có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Anh Nguyễn Tiến D có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị L xác định vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Dành quyền khởi kiện về việc phân chia tài sản chung hoặc nghĩa vụ chung về tài sản sau ly hôn cho các đương sự để được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác (nếu có).

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0022932 ngày 11-01-2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội.

Ghi nhận việc chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Anh Nguyễn Tiến D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

43
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 79/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:79/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về