Bản án về ly hôn số 72/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 72/2024/HNGĐ-ST NGÀY 04/03/2024 VỀ LY HÔN

Ngày 04 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 293/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 475/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đường Minh Q, sinh năm 1970 Địa chỉ: C lô F Chung cư N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Trần Lệ L, sinh năm 1969 Hộ chiếu số K0200535 cấp ngày 29/4/2022 tại S, Hoa Kỳ.

Địa chỉ: G Pelleas Ln S, USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 23 tháng 10 năm 2023 và lời khai của nguyên đơn - ông Đường Minh Q thì: Ông và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2001, không có tổ chức đám cưới và không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống, hai người nhận ra có quá nhiều sự khác biệt quan điểm, lối sống và văn hóa. Năm 2015, hai người đã ly thân. Năm 2018, bị đơn sang Hoa Kỳ làm việc và sinh sống. Nhận thấy thời gian xa cách đã lâu, tình cảm không còn, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông bà bà Trần Lệ L.

Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Đường T, sinh ngày 03/10/2006. Ông đồng ý giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông.

Tại Đơn tường trình có nội dung chứng nhận ngày 06/12/2023 của T tại S, USA (Hoa Kỳ), bà Trần Lệ L trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Q về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Bà đồng ý ly hôn ông Đường Minh Q. Đồng thời bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Ông Đường Minh Q khởi kiện xin ly hôn với bà Trần Lệ L, hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn - ông Đường Minh Q và bị đơn - bà Trần Lệ L có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đường Minh Q và bà Trần Lệ L.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về hôn nhân: Ông Đường Minh Q và bà Trần Lệ L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 trên cơ sở tự nguyện nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý”. Do đó, quan hệ giữa ông Đường Minh Q và bà Trần Lệ L không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Nay ông Đường Minh Q và bà Trần Lệ L thống nhất nguyên nhân mâu thuẫn do sự khác biệt về quan điểm sống, cả hai đã ly thân từ năm 2015, xét ông Đường Minh Q và bà Trần Lệ L cùng thuận tình yêu cầu chấm dứt quan hệ vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Đường Minh Q và bà Trần Lệ L.

Về con chung: Giao con chung Đường Trần Như M, sinh ngày 03/10/2006 cho bà Trần Lệ L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông Q do bà L không yêu cầu.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đường Minh Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điều 38; Khoản 4 Điều 147; Khoản 4 Điều 207; Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ vào Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đường Minh Q.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Đường Minh Q và bà Trần Lệ L.

Về con chung: Giao con chung Đường Trần Như M, sinh ngày 03/10/2006 cho bà Trần Lệ L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông Q do bà L không yêu cầu Ông Đường M có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, sau này ông Q và bà L đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Đường Minh Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0004224 ngày 10 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đường Minh Q đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn - Ông Đường M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án; bị đơn - bà Trần Lệ L được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

88
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 72/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:72/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về