Bản án về ly hôn số 52/2023/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 52/2023/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2023 VỀ LY HÔN

Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 30/2023/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thế T, sinh năm 1981(vắng mặt) Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định

Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1974(vắng mặt) Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15/02/2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Thế T trình bày: Anh kết hôn với chị Trần Thị H trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 11 năm 2011 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian thì mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H nhiều lần đánh chửi anh, xúc phạm bố mẹ anh và em dòng họ nhà chồng. Khi anh bị bệnh nặng thì chị H bán hết tài sản trong gia đình, bỏ đi làm giúp việc không về chăm sóc anh nữa. Từ tháng 01 năm 2023 đến nay vợ chồng anh ly thân. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị H.

Về con chung: Vợ chồng anh không có con chung Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Chị Trần Thị H được Tòa án triệu tập đến trụ sở Tòa án làm việc nhưng anh không đến, cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Về đường lối giải quyết:

Căn cứ điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Thế T. Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thế T và chị Trần Thị H.

2. Về án phí DSST: anh T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Trần Thị H vẫn thường trú tại địa phương nhưng thường xuyên vắng mặt tại nhà, không rõ thời điểm trở về, vì vậy không thể thực hiện việc tống đạt hoặc thông báo trực tiếp. Tòa án nhân dân huyện N đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 177 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Thế T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Trần Thị H vắng mặt; căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thế T và chị Trần Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2011 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

[3] Sau khi kết hôn, giữa anh T và chị H chung sống với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã xô xát, chị H đánh chửi anh T có lời lẽ xúc phạm đến gia đình nhà chồng. Từ tháng 01 năm 2023 đến nay anh T và chị H ly thân. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị H không còn; anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị H Xét thấy cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn Thế T và chị Trần Thị H đã mâu thuẫn trầm trọng, từ khi ly thân đến nay giữa 2 bên cũng không tìm được biện pháp hàn gắn đoàn tụ nên nếu tiếp tục kéo dài thì mục đích của hôn nhân không đạt được; Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Thế T đối với chị Trần Thị H.

[5] Về nuôi con chưa thành niên khi ly hôn: Anh Nguyễn Thế T và chị Trần Thị H không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản: Anh Nguyễn Thế T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu sau này các đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[7] Về án phí: Anh Nguyễn Thế T phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thế T, chị Trần Thị H được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147;

khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án 1.Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thế T và chị Trần Thị H 3.Về án phí: Anh Nguyễn Thế T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên lai thu số 0004892 ngày 01 tháng 3 năm 2023 4.Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thế T, chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

68
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về ly hôn số 52/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:52/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nghĩa Hưng - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/05/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về