TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HUYỆN DK - TỈNH KHÁNH HÒA
BẢN ÁN 50/2023/HNGĐ-ST NGÀY 26/07/2023 VỀ LY HÔN
Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện D K, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 57/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/02/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/7/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương D - sinh năm 1988 Địa chỉ: Thôn Phú Khánh Th, xã D T, huyện D K, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt
- Bị đơn: Ông Võ Ngọc Q - sinh năm 1986 Địa chỉ: Thôn Phú Khánh Th, xã D T, huyện D K, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/02/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Phương D trình bày:
Bà và ông Võ Ngọc Q tự nguyện chung sống với nhau và có kết hôn vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã D T, D K. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021 do ông Q không có trách nhiệm với vợ con, mọi việc mình bà gánh vác, ông Q còn hay ghen tuông vô cớ, giám sát bà từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Bà không thể tiếp tục chung sống với một người chồng như vậy được nữa nên bà đã bỏ về nhà mẹ mình sống đến nay đã hơn 1 năm. Bà xác định không còn tình cảm yêu thương với ông Q nữa, nên yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với ông Q.
Về con chung: Có 3 con chung là Võ Phúc L - sinh ngày 06/11/2012, Võ Đức L - sinh ngày 24/7/2017 và Võ Quỳnh L - sinh ngày 24/7/2017. Hiện nay, con chung đang sống cùng bà, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con vì bà có yêu cầu thì ông Q cũng không chu cấp.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Võ Ngọc Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không có lời khai.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật, bị đơn không có lời khai, không đến Tòa án làm việc.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Phương D đối với ông Võ Ngọc Q. Giao con chung: Võ Phúc L - sinh ngày 06/11/2012, Võ Đức L - sinh ngày 24/7/2017 và Võ Quỳnh L - sinh ngày 24/7/2017 cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ghi nhận việc bà D tự nguyện không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Bà D xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không xét. Bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Võ Ngọc Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Phương D và ông Võ Ngọc Q tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 18 vào ngày 28/4/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà D xác định trong thời gian chung sống giữa bà và ông Q thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông Q không có trách nhiệm với vợ con, mọi việc mình bà gánh vác, ông Q còn hay ghen tuông vô cớ, giám sát bà từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách và không thể hàn gắn được; hiện tại, bà không còn tình cảm với ông Q; không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án, ông Q đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để làm việc điều này thể hiện ông Q có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến quan hệ vợ chồng, không muốn hàn gắn đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn.
[3]. Về con chung: Bà D và ông Q có 03 con chung là Võ Phúc L - sinh ngày 06/11/2012, Võ Đức L - sinh ngày 24/7/2017 và Võ Quỳnh L - sinh ngày 24/7/2017. Hiện tại, các con chung đang sinh sống với bà và bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 3 con chung, xét thấy cần giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật. Ghi nhận việc bà D không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.
[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Phương D xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không giải quyết. Do bị đơn ông Võ Ngọc Q chưa có lời khai về vấn đề này nên nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
[5]. Về án phí: Bà Lê Thị Phương D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lê Thị Phương D được ly hôn với ông Võ Ngọc Q.
2. Về con chung: Bà Lê Thị Phương D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 3 con chung là Võ Phúc L - sinh ngày 06/11/2012, Võ Đức L - sinh ngày 24/7/2017 và Võ Quỳnh L - sinh ngày 24/7/2017 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận việc bà D tự nguyện không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Ông Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Quá trình nuôi dưỡng con chung, bà D, ông Q có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; thay đổi cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Bà Lê Thị Phương D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà D đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0012412 ngày 16/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D K, tỉnh Khánh Hòa. Bà D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về ly hôn số 50/2023/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 50/2023/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/07/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về