Bản án về ly hôn số 44/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 44/2023/HNGĐ-ST NGÀY 24/08/2023 VỀ LY HÔN

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2023 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T- Sinh năm: 1984 Địa chỉ: thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Phạm Văn D - Sinh năm: 1981 Địa chỉ: thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2023, bản tự khai ngày 24/4/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Về yêu cầu ly hôn: Bà T và ông Phạm Văn D tự nguyện kết hôn với nhau năm 2005 và được Ủy ban nhân dân xã Suối Tân cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 19 quyển số 01/2005 ngày 13/5/2005.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà T, ông D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi nhau. Nguyên nhân là do ông D chơi bài bạc, lô đề, thường xuyên đánh đập vợ con, đập phá đồ đạc trong nhà. Nhiều lần ông D cầm dao rượt đánh mẹ con bà T. Bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng nhau được nên bà Tâm yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn D.

Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông D có 02 con chung là Phạm Nguyễn Hoàng G sinh ngày 08/5/2005 và Phạm Nguyễn Hoàng V sinh ngày 19/01/2009, đang sống cùng với bà T. Hiện nay, cháu G đã đủ 18 tuổi và khỏe mạnh nên bà T không yêu cầu giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng đối với cháu G. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu V và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn ông Phạm Văn D không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngày 20/02/2023, bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Văn D, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Văn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về yêu cầu ly hôn: Bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Văn D tự nguyện kết hôn với nhau năm 2005 và được Ủy ban nhân dân xã Suối Tân cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 19 quyển số 01/2005 ngày 13/5/2005, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa bà T và ông D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi nhau. Ông D chơi bài bạc, số đề, thường xuyên đánh đập vợ con, đập phá đồ đạc trong nhà. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Tâm và ông D đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T.

[3] Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông D có 02 con chung là Phạm Nguyễn Hoàng G sinh ngày 08/5/2005 và Phạm Nguyễn Hoàng V sinh ngày 19/01/2009. Hiện nay, cháu G đã đủ 18 tuổi và khỏe mạnh, bà T không yêu cầu giải quyết việc nuôi con cấp dưỡng nên không xét. Hội đồng xét xử xét thấy cháu V đang sống cùng với bà T và cháu có nguyện vọng ở với mẹ nên chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu V cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

[4] Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà T không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Phạm Văn D.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:

- Giao cháu Phạm Nguyễn Hoàng V sinh ngày 19/01/2009 cho bà Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên không xét.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà T không yêu cầu giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0009607 ngày 14/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm; bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

91
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 44/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:44/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cam Lâm - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về