Bản án về ly hôn số 43/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC 

BẢN ÁN 43/2022/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2022 VỀ LY HÔN

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 67/2022/TLST-HN&GĐ ngày 11 tháng 3 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2022/QĐ-HPT ngày 12 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

Bà Lê Thị L - Sinh năm: 1991 (Có mặt).

Trú tại: Tổ 4, khu phố L1, phường P, thành phố X, tỉnh Bình Phước.

* Bị đơn:

Ông Phan Văn Th - Sinh năm: 1986 (Vắng mặt – Không có lý do).

Trú tại: Tổ 4, khu phố L1, phường P, thành phố X, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị L trình bày:

Bà Lê Thị L và ông Phan Văn Th đã tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là UBND phường P, thành phố X, tỉnh Bình Phước) vào ngày 10 tháng 11 năm 2010. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa bà L với ông Th là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc ai.

Thời gian đầu bà L và ông Th chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau này thì giữa bà L và ông Th phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được mọi việc trong gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét thấy tình cảm giữa bà L và ông Th không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, nay bà L yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Phan Văn Th.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Lê Thị L và ông Phan Văn Th có hai người con chung tên Phan Th Tâm – Sinh ngày: 22/9/2010 và Phan Th Đ – Sinh ngày: 07/6/2017. Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, bà L không yêu câu ông Th phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn – Ông Phan Văn Th vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L, cho bà Lê Thị L được ly hôn với ông Phan Văn Th. Giao con chung là cháu Phan Th T – Sinh ngày: 22/9/2010 và Phan Th Đ – Sinh ngày:

07/6/2017 cho bà Lê Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Xác định đây là vụ án “Ly hôn” do bà Lê Thị L đứng đơn khởi kiện. Bị đơn là ông Phan Văn Th có địa chỉ cư trú tại Tổ 4, khu phố L1, phường P, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự:

Bị đơn trong vụ án là ông Phan Văn Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp L đầy đủ các văn bản tố tụng cho ông Th nhưng ông Th vẫn cố tình vắng mặt không đến tham gia phiên tòa nên được xem như ông Th đã từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Phan Văn Th theo thủ tục chung.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Theo lời trình bày của nguyên đơn là bà Lê Thị L trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bà Lê Thị L và ông Phan Văn Th đã tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thị xã X, tỉnh Bình Phước (nay là UBND phường P, thành phố X, tỉnh Bình Phước) vào ngày 10 tháng 11 năm 2010. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa bà L với ông Th là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc ai.

Thời gian đầu bà L và ông Th chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau này thì giữa bà L và ông Th phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được mọi việc trong gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được.

Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án ông Phan Văn Th mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật để triệu tập ông Th đến Tòa án làm việc để hòa giải đoàn tụ nhưng ông Th vẫn vắng mặt không có lý do, Tòa án cũng đã khuyên bảo bà Lê Thị L nhiều lần nhưng bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Th cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông Th đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị L.

[4] Về con chung:

Trong thời gian chung sống, bà Lê Thị L và ông Phan Văn Th có hai người con chung tên Phan Th T – Sinh ngày: 22/9/2010 và Phan Th Đ – Sinh ngày: 07/6/2017. Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, bà L không yêu câu ông Th phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Phan Th T và Phan Th Đ đang còn nhỏ, hiện hai cháu đang ở với mẹ là bà Lê Thị L và đang được bà L chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Phan Văn Th không có ý kiến gì về việc yêu cầu nuôi con chung của bà L. Để đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung là cháu Phan Th T và Phan Th Đ, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà L, giao con chung là cháu Phan Th T và Phan Th Đ cho bà Lê Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[5] Về tài sản chung và nợ chung:

Bà Lê Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L. Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị L được ly hôn với ông Phan Văn Th.

- Về con chung:

Giao con chung là cháu Phan Th T – Sinh ngày: 22/9/2010 và Phan Th Đ – Sinh ngày: 07/6/2017 cho bà Lê Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Ông Phan Văn Th được quyền thăm nom con chung không ai được phép ngăn cản.

Vì quyền - lợi ích mọi mặt của con chung, bà Lê Thị L và ông Phan Văn Th được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004268 ngày 11 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

- Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phan Văn Th vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

91
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 43/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:43/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/08/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về