Bản án về ly hôn số 39/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 39/2024/HNGĐ-ST NGÀY 22/08/2024 VỀ LY HÔN

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh D xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1983.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh D.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1980.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh D.

Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, các biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là chị Trần Thị H và bị đơn là anh Trần Văn N trình bày: Chị H và anh N được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 10/9/2002 tại UBND xã N, huyện K, D. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng từ 2 năm đến 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo chị H khai là do anh N không có trách nhiệm với gia đình, thích cờ bạc, quan hệ nam nữ không lành mạnh dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng lớn, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Anh N cũng thừa nhận vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Thời gian gần đây vợ chồng tính tình ngày càng không hợp dẫn đến mỗi người một ý, không còn quan tâm đến nhau, không bảo ban nhau trong làm kinh tế dẫn đến vợ chồng liên tục cãi vã, hạnh phúc gia đình không còn. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh N nhưng anh N không đồng ý.

Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Trần Thị Thu H1, sinh ngày 24/6/2003, hiện đã trưởng thành nên chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh N không yêu cầu tòa án giải quyết Đại diện UBND xã K và đại diện thôn T, xã K cung cấp: Anh N, chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi kết hôn anh N và chị H về chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên không hợp tính tình, không bảo ban nhau trong làm ăn kinh tế, hai bên vẫn sống chung nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị H làm đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

- Ông Trần Văn Q là bố đẻ chị H trình bày: Chị H và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N mải chơi, nợ nần nhiều, không chăm lo cho vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã xô xát nhau, vợ chồng tuy vẫn sống chung nhà nhưng ăn, ngủ riêng không ai quan tâm đến ai. Nay chị H có đơn xin ly hôn thì quan điểm của tôi là không muốn con cái ly hôn, còn việc ly hôn thì tùy anh chị ấy vì anh chị ấy đã lớn tuổi. Đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Ông Trần Văn Đ là bố đẻ của anh N trình bày: Anh N và chị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được 1 thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N mải chơi cờ bạc, nợ nần nhiều, bản thân vợ chồng tôi cũng đã từng phải trả nợ cho anh N. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh N thì quan điểm của chúng tôi là không muốn con cái ly hôn nhưng nếu chị H quyết tâm ly hôn thì tùy anh, chị ấy.

Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của tòa án.

Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh N.

- Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Trần Thị Thu H1, sinh ngày 24/6/2003, hiện đã trưởng thành nên chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: không đặt ra giải quyết.

- Án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng:

Chị Trần Thị H khởi kiện xin ly hôn, giải quyết về nuôi con khi ly hôn đối với anh Trần Văn N có địa chỉ thường trú tại xã K, huyện K nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị H đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh N đã được triệu tập đến lần thứ hai vẫn vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị H và anh Trần Văn N kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 10/9/2002 tại UBND xã N, huyện K, tỉnh D trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa chị H và anh N đã phát sinh mâu thuẫn, hay cãi nhau, nguyên nhân là do anh N chơi bời, nợ nần, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng không bảo ban nhau trong làm ăn kinh tế dẫn đến liên tục cãi vã, hạnh phúc gia đình không còn. Mặc dù vẫn sống chung nhà nhưng đã ăn riêng, ngủ riêng, không còn ai quan tâm tới ai nữa đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị được ly hôn với anh N. Anh N có thừa nhận vợ chồng có những mâu thuẫn nhưng không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, kể từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến nay, qua nhiều lần hòa giải, anh N cũng không có biện pháp tích cực nào để cải thiện quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng. Bản thân anh N không muốn ly hôn nhưng xác định nếu chị H cứ cương quyết xin ly hôn thì anh cũng tùy theo nguyện vọng của chị H. Như vậy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Trần Thị Thu H1, sinh ngày 24/6/2003. Hiện cháu H1 đã trưởng thành nên chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[2.4]. Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Trần Văn N.

2. Về con chung: chị H và anh N có 01 con chung là cháu Trần Thị Thu H1, sinh ngày 24/6/2003, hiện đã trưởng thành nên chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006263 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh D, chị H đã thi hành xong nghĩa vụ về án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

98
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 39/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:39/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Thành - Hải Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về