TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
BẢN ÁN 34/2023/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2023 VỀ LY HÔN
Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXX-ST, ngày 19 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Tựa - Sinh năm 1976 Địa chỉ: Thôn x, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Bị đơn: Anh Trương Văn T - Sinh năm 1978
Địa chỉ: Thôn Bắc T, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 15/3/2023 và bản tự khai, nguyên đơn chị Hồ Thị Tựa trình bày: chị và anh Trương Văn T kết hôn vào ngày 17/5/2021, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nga Thái, huyện Nga Sơn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng nhau được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Anh T hay có thói ghen tuông, nắm toàn bộ kinh tế trong gia đình, không có sự chia sẻ với chị. Từ tháng 12/2022 chị và anh T sống ly thân, chị về nhà chị ở Nga Thái để sinh sống, không còn sự quan tâm gì đến nhau. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T theo quy định. Về con: Vợ chồng không có con chung nên chị không yêu cầu giải quyết. Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, chị không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trương Văn T, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Nhưng anh T cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh T vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Mặc dù anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, Chị T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt Chị T, anh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Chị Hồ Thị T và anh Trương Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống cùng nhau đến tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo Chị T trình bày do vợ chồng chung sống không có tiếng nói chung, tính tình không hòa hợp dẫn đến tình cảm vợ chồng không thể duy trì được, anh T là người nắm kinh tế, không có sự chia sẻ với vợ. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2022 đến nay. Chị T và anh T không còn sự quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục duy trì, Chị T đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh T theo quy định. Xét yêu cầu xin ly hôn của Chị T là hoàn toàn chính đáng. Bởi lẽ, các bên đã sống ly thân, tình cảm không thể hàn gắn được, HĐXX chấp nhận yêu cầu của Chị T, cho Chị T ly hôn anh T là phù hợp quy định.
[2] Về con và tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.
[3] Về án phí: Chị Hồ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị T cho Chị T 3được ly hôn anh Trương Văn T.
2. Về án phí: Chị Hồ Thị T phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0016508 ngày 15/3/2023 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, Chị T đã nộp đủ án phí DSST.
3. Quyền kháng cáo: Chị T, anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Bản án về ly hôn số 34/2023/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 34/2023/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nga Sơn - Thanh Hoá |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 14/06/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về