Bản án về ly hôn số 31/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 31/2024/HNGĐ-ST NGÀY 20/06/2024 VỀ LY HÔN

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 168/2023/TLST - HNGĐ, ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Hồng T, sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT: Xóm K, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT: Xóm K, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn ly hôn và các lời khai nguyên đơn chị Lê Hồng T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND xã Y ngày 12/12/2012 và có tổ chức cưới hỏi.

Thời gian đầu vợ chồng sống hoà thuận hạnh phúc trong một thời gian ngắn sau đó nảy sinh mâu thuẫn do anh C hay uống rượu rồi về xúc phạm chị, thậm chí đánh đập chị. Anh C không quan tâm, chăm sóc gia đình, cũng không đóng góp kinh tế để nuôi con. Chị đã nói chuyện với anh C về mâu thuẫn vợ chồng nhưng anh C không chịu thay đổi, vẫn tiếp tục tình trạng trên khiến vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Chị không thể chung sống với anh C nữa nên đến tháng 10/2022, chị và anh C đã sống ly thân. Đến nay chị xác định đã hết tình cảm vợ chồng với anh C, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 19/10/2012 và Nguyễn Thùy D, sinh ngày 03/9/2014. Hiện hai con đang ở với chị, khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/con/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do trong quá trình giải quyết vụ án, anh C không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời trình bày, lời khai về các nội dung liên quan đến vụ án. Do đó Toà án đã tiến hành các thủ tục xác minh nơi cư trú, xác minh tình trạng hôn nhân, niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Tại biên bản xác minh Công an xã Y xác định: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm K, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, có số căn cước công dân là 0190920xxxx. Anh C không đăng ký tạm trú ở đâu khác ngoài địa chỉ thường trú trên. Anh C làm công việc tự do, thường vắng mặt ở địa phương, thỉnh thoảng mới về nhà, không biết anh C làm gì, ở đâu.

Tại biên bản làm việc bà Lương Thị T1 - mẹ đẻ của anh C cho biết: Chị Lê Hồng T và anh Nguyễn Văn C kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Y, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị T và anh C về chung sống với gia đình bà ở xóm K, xã Y. Đến tháng 01 năm 2022, chị T và anh C xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng cãi nhau, đánh nhau. Từ đó chị T thuê nhà ra ở riêng, vợ chồng sống ly thân với nhau từ đó đến nay. Hai con chung đang ở với chị T. Bà có khuyên can chị T và anh C nhưng tình cảm giữa hai anh chị không có tiến triển..

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử… để bảo đảm quyền, nghĩa vụ của anh C trước pháp luật. Tuy nhiên, anh C không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Do vậy, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Anh C vắng mặt, chị T giữ nguyên quan điểm xin ly hôn không thay đổi bổ sung nội dung gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, không có vi phạm gì. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh C; Về con chung đề nghị giao hai con chung cho chị T nuôi dưỡng; Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Đây là vụ án ly hôn, bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại xóm K, xã Y, huyện P. Do đó Tòa án nhân dân huyện Phú Lương thụ lý giải quyết là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh C đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên anh C vẫn cố tình vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án.

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hồng T và anh Nguyễn Văn C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 01/2012 là cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, anh chị bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ma tranh cãi, đánh nhau khiến tình cảm vợ chồng dần xa cách và không còn quan tâm đến nhau, không cùng nhau chăm sóc và xây dựng cuộc sống chung. Đến năm 2022 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nên đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng. Từ đó đến nay chị T và anh C không còn quan tâm gì đến nhau. Gia đình hai bên cũng đã động viên hoà giải nhiều lần nhưng không thành.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T kiên quyết xin ly hôn. Vì vậy cần áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị T ly hôn với anh C là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 19/10/2012 và Nguyễn Thùy D, sinh ngày 03/9/2014. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, anh C vắng mặt, không trình bày ý kiến quan điểm về việc nuôi con. Xét thấy cháu Á và cháu D đều là con gái, đang tuổi dậy thì, hai cháu cũng có ý kiến mong muốn ở với mẹ. Do vậy cần giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp. Sau khi ly hôn, anh C được đảm bảo quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con không ai có quyền cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị T yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con hai con mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/con/tháng. Xét thấy, yêu cầu của chị T là chính đáng, mức cấp dưỡng là phù hợp với mức thu nhập bình quân tại địa phương, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T về cấp dưỡng nuôi con. Cần buộc anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là Nguyễn Ngọc Á là 1.000.000 đồng/tháng và cấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Thùy D là 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp sau khi ly hôn các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì có quyền yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

[2.4] Về án phí: Trong vụ án này chị Lê Hồng T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Hồng T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Hồng T được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

1.2. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 19/10/2012 và Nguyễn Thùy D, sinh ngày 03/9/2014 cho chị Lê Hồng T chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là Nguyễn Ngọc Á là 1.000.000 đồng/tháng và cấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Thùy D là 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Á và cháu Dương đ đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Nguyễn Văn C được quyền và có nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Kể từ ngày người có quyền được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

1.3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí: Chị Lê Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước (được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai 0004403 ngày 06/11/2023 tại Chi cục THADS huyện P, ).

Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nộp ngân sách nhà nước Báo cho chị T biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

87
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 31/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:31/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Lương - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về