TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
BẢN ÁN 27/2024/HNGĐ-ST NGÀY 29/05/2024 VỀ LY HÔN
Trong các ngày 24 và 29 tháng 5 năm 2025, Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 150/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phan Nhân Đ, sinh năm 1986 Nơi cư trú: Tổ dân phố Lê Hồng P, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1988 Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N chi nhánh huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Thượng H - Chức vụ: Phó giám đốc (có mặt) - Ngân hàng H1; Địa chỉ: Tòa M, lô S, đường V, phường X, quận T, TP Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc C - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến T - chức vụ: Phó phòng khách hàng doanh nghiệp và cá nhân (có mặt) - Bà Nông Thị D, sinh năm 1968 (có mặt) - Ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1966; Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thanh M: Bà Nông Thị D (có mặt) Bà D và ông M cùng cư trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Phan Nhân Đ trình bày:
Về tình cảm vợ chồng: Anh và chị Q kết hôn ngày 18/04/2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y. Khi kết hôn hai bên đều tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương. Sau khi kết hôn, chị Q về nhà anh làm dâu và sinh sống cùng gia đình anh tại Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì lớn. Đến năm 2013, chị Q sinh con đầu lòng, vợ chồng anh chuyển đến nhà bố mẹ đẻ chị Q sinh sống tại xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng chung sống không thể hòa hợp nên tháng 02/2022, anh chị quyết định sống ly thân. Anh chuyển đi nơi khác sinh sống. Từ khi sống ly thân, anh chị không quan tâm cũng không còn liên lạc gì với nhau. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị Q nên xin được ly hôn với chị Q.
Về con chung: Anh Đ và chị Q có hai con chung là Phan Đình Khang T1, sinh ngày 30/3/2013 và Phan Thị Hồng A1, sinh ngày 17/12/2016. Hiện nay hai con đang sống với chị Q tại xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khi ly hôn anh Đ xin nuôi cháu Phan Đình Khang T1, sinh ngày 30/3/2013, để chị Q nuôi cháu Phan Thị Hồng A1, sinh ngày 17/12/2016. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh và chị Q tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh có tài sản chung là 01 xe ô tô 20A - xxxxx loại xe VIOS đăng ký tên chị Nguyễn Thị Q. Khi ly hôn, anh đề nghị chia đôi giá trị xe theo quy định của pháp luật.
Về khoản nợ: Anh đề nghị Tòa án giải quyết các khoản nợ chung gồm:
+ Nợ Ngân hàng H1 chi nhánh H2 số tiền 120 triệu đồng, vay để mua xe ô tô, tính đến 19/12/2023 dư nợ 32.940.000 đồng tiền gốc, lãi là 382.529 đồng (thế chấp lương của anh).
+ Khoản vay 100.000.000 đồng đứng tên chị Q, vay tháng 5 năm 2023 mục đích mua vật liệu xây công trình phụ nhà bếp, đến ngày 20/12/2023 còn dư nợ 85.419.000 đồng (có tín chấp xe ô tô).
Khi ly hôn anh đề nghị chia tài sản chung và chia hai khoản nợ chung nói trên theo quy định của pháp luật. Anh không yêu cầu giải quyết các khoản nợ khác của Ngân hàng N do chị Q đứng tên vay.
Trong quá trình giải quyết bị đơn là chị Q trình bày:
Về tình cảm vợ chồng: Chị và anh Đ kết hôn ngày 18/04/2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y. Khi kết hôn hai bên đều tự nguyện, được sự đồng thuận của hai bên gia đình và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương. Sau khi kết hôn chị về nhà anh Đ làm dâu nhưng vợ chồng sinh sống chủ yếu ở nhà bố mẹ đẻ chị tại xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vợ chồng thi thoảng có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn sống hạnh phúc. Năm 2013 chị sinh con đầu lòng, vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Tháng 02/2022, anh Đ chuyển đi nơi khác sinh sống, chị và anh Đ sống ly thân từ đó đến nay. Từ khi sống ly thân, anh chị không còn liên lạc hay quan tâm gì đến nhau. Chị cũng thấy rằng tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, do đó chị đồng ý ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có hai con chung là Phan Đình Khang T1, sinh ngày 30/3/2013 và Phan Thị Hồng A1, sinh ngày 17/12/2016. Từ khi ly thân đến nay cả hai con đang sống với chị tại xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khi ly hôn chị xin được nuôi cả hai con và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị chỉ có tài sản chung là 01 xe ô tô 20A - xxxxx loại xe VIOS đăng ký tên chị là Nguyễn Thị Q. Hiện nay chiếc xe ô tô này chị đang quản lý sử dụng, nhưng giấy đăng ký xe bản gốc đang tín chấp đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng N chi nhánh P.
Về nợ chung: Chị và anh Đ có nợ chung gồm:
- Nợ ngân hàng N các khoản nợ gồm:
+ Khoản vay thấu chi 100.000.000 đồng đứng tên chị, vay tháng 9 năm 2023, vay để sửa nhà, chi tiêu các mục đích trong gia đình. Đến ngày 20/12/2023 dư nợ là 99.696.717 đồng.
+ Khoản vay 70.000.000 đồng đứng tên chị, vay tháng 2 năm 2023 mục đích vay để mua đồ dùng gia đình, tính đến 20/12/2023 dư nợ là 52.450.000 đồng.
+ Khoản vay 100.000.000 đồng đứng tên chị, vay tháng 5 năm 2023 mục đích mua vật liệu xây công trình phụ nhà bếp, đến ngày 20/12/2023 còn dư nợ 85.419.000 đồng (có tín chấp ô tô).
- Nợ của bố mẹ chị là ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1965 và bà Nông Thị Duyên s tiền 150.000.000 đồng, vay để mua ô tô. Hiện nay chưa trả được khoản tiền nào cho bố mẹ chị.
- Nợ Ngân hàng H1 chi nhánh H2 số tiền 120 triệu đồng, vay để mua xe ô tô (thế chấp lương của anh Đ).
Khi ly hôn chị đề nghị giải quyết các khoản nợ chung gồm: Khoản vay của ngân hàng H1 thế chấp lương của anh Đ và khoản vay Ngân hàng N 100.000.000 đồng đứng tên chị, vay tháng 5 năm 2023 mục đích mua vật liệu xây công trình phụ nhà bếp (có tín chấp ô tô).
Về khoản nợ bố mẹ chị (bà D và ông M) 150 triệu đồng, trong quá trình giải quyết, chị Q yêu cầu chia đôi nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên tại phiên tòa do bố mẹ chị (bà D ông M) rút yêu cầu độc lập nên chị thay đổi ý kiến, chị xác định đây không phải nợ chung nên không đề nghị giải quyết về khoản nợ chung này nữa. Tuy nhiên chị đề nghị Tòa án xác định khoản tiền trên là công sức đóng góp của chị vào việc mua xe ô tô do bố mẹ chị cho chị.
Đối với các khoản nợ khác (các khoản vay khác tại Ngân hàng), chị không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quan điểm:
+ Ngân hàng H1, ông Nguyễn Tiến T trình bày:
Anh Phan Nhân Đ có ký hợp đồng tín dụng số TDU3800007 ngày 17/12/2019 vay Ngân hàng H1 số tiền 120 triệu đồng, thời gian vay 60 tháng, đảm bảo bằng tiền lương và khoản thu nhập khác của anh Đ. Hồ sơ vay vốn có sự nhất trí của chị Q tại phương án vay vốn do đó Ngân hàng H1 xác định đây là nợ chung vợ chồng.
Nay anh Đ chị Q tranh chấp ly hôn và đề nghị giải quyết khoản nợ này Ngân hàng H1 nhất trí với ý kiến của nguyên đơn bị đơn, phía ngân hàng H1 không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Đề nghị anh Đ, chị Q thực hiện đúng cam kết theo hợp đồng tín dụng. Trường hợp có tranh chấp liên quan hợp đồng tín dụng chúng tôi sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
+ Ngân hàng N, chi nhánh huyện P, ông Ngô Thượng H trình bày:
Ông Phan Nhân Đ và bà Nguyễn Thị Q cùng trú tại TDP L, thị trấn Đ, huyện P có các khoản vay theo Hợp đồng tín dụng tại A2 Chi nhánh huyện P như sau:
+ Hợp đồng tín dụng số 8503LAV202300338 ngày 16/2/2023 ký giữa A2 Chi nhánh huyện P và bà Nguyễn Thị Q. Số tiền cho vay: 70.000.000 đồng. Dư nợ gốc đến ngày 20/12/2023 là: 52.450.000 đồng. Mục đích sử dụng tiền vay: Mua sắm vật dụng sinh hoạt gia đình.
+ Hợp đồng tín dụng số 8503LAV202301023 ngày 08/5/2023 ký giữa A2 Chi nhánh huyện P và bà Nguyễn Thị Q. Số tiền cho vay: 100.000.000 đồng. Dư nợ gốc đến ngày 20/12/2023 là: 85.419.000 đồng. Mục đích sử dụng tiền vay: Mua vật liệu xây dựng công trình phụ nhà bếp.
+ Hợp đồng tín dụng số 8503LAV202301723 ngày 19/7/2023 ký giữa A2 Chi nhánh huyện P và ông Phan Nhân Đ. Số tiền cho vay: 40.000.000 đồng. Dư nợ gốc đến ngày 20/12/2023 là: 38.666.000 đồng. Mục đích sử dụng tiền vay: Mua sắm vật dụng sinh hoạt gia đình. Khoản vay đã quá hạn gốc, lãi từ ngày 20/10/2023. Dư nợ gốc quá hạn: 38.666.000 đồng. Dư nợ lãi đến 20/12/2023: 1.120.784 đồng. Đến nay đã thanh toán xong.
Các khoản vay theo 03 Hợp đồng tín dụng nêu trên phục vụ mục đích chung của gia đình bà Nguyễn Thị Q và ông Phan Nhân Đ. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Q và ông Phan Nhân Đ có 02 khoản vay thấu chi trên tài khoản thanh toán. Dư nợ 02 khoản vay thấu chi đến ngày 20/12/2023 là:
+ Hợp đồng vay thấu chi ký giữa ông Phan Nhân Đ và A2 Chi nhánh huyện P số 8503LAV202201960 ngày 05/9/2022.
+ Hợp đồng vay thấu chi ký giữa bà Nguyễn Thị Q và A2 Chi nhánh huyện P số 8503LAV202302709 ngày 31/10/2023, dư nợ gốc đến ngày 20/12/2023: 99.696.717 đồng.
Nay chị Q và anh Đ chỉ yêu cầu giải quyết khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 8503LAV202301023 ngày 08/5/2023 ký giữa A2 Chi nhánh huyện P và bà Nguyễn Thị Q. Số tiền gốc cho vay là 100.000.000 đồng. Phía ngân hàng N nhất trí với yêu cầu của chị Q và anh Đ. Trong vụ án này Ngân hàng N chi nhánh huyện P không có yêu cầu độc lập, trường hợp có tranh chấp về các hợp đồng tín dụng chúng tôi sẽ đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án khác.
+ Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan độc lập là bà Nông Thị D và ông Nguyễn Thanh M:
Bà D và ông M là bố mẹ đẻ của chị Q. Ông bà xác định năm 2020 có cho con gái là chị Nguyễn Thị Q và con rể là anh Phan Nhân Đ vay 150 triệu đồng, khi cho vay bà có đề nghị UBND xã Y xác nhận nội dung cho con gái vay mua xe ô tô, tuy nhiên không có chữ ký của chị Q và anh Đ. Nay vợ chồng chị Q ly hôn, ông bà yêu cầu vợ chồng chị Q, anh Đ cùng có trách nhiệm trả khoản nợ trên cho ông bà. Ông bà không yêu cầu tính lãi suất. Tại phiên tòa bà D và ông M có đơn rút yêu cầu độc lập về việc đòi số tiền trên.
Quá trình giải quyết vụ án, kết quả định giá xe ô tô Vios BKS 20A - xxxxx loại xe VIOS có giá 270.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, không có vi phạm gì.
Về nội dung và phương án giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các nội dung như sau:
Về tình cảm vợ chồng: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Phan Nhân Đ và chị Nguyễn Thị Q.
Về con chung: Giao con chung là cháu Phan Đình Khang T1, sinh ngày 30/3/2013 cho anh Đ nuôi dưỡng, giao cháu Phan Thị Hồng A1, sinh ngày 17/12/2016 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho hai bên.
Về tài sản chung và nợ chung: Đề nghị Toà án xác định xe ô tô Vios BKS 20A - xxxxx là tài sản chung vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Giao xe cho chị Nguyễn Thị Q sở hữu, sử dụng. Chị Q có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch giá trị tài sản cho anh Đ theo quy định của pháp luật.
Về hai khoản nợ chung có yêu cầu giải quyết: Đề nghị HDXX giao anh Đ có trách nhiệm trả khoản nợ tại ngân hàng H1, giao chị Q có trách nhiệm trả nợ ngân hàng N theo hợp đồng ngày 08/5/2023.
Về các khoản nợ khác các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Về chi phí tố tụng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Đề nghị buộc các đương sự chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn giữa nguyên đơn là anh Phan Nhân Đ và bị đơn là chị Nguyễn Thị Q. Căn cứ quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
[2]. Về nội dung vụ án.
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 18/04/2012 của UBND xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử xét thấy anh Phan Nhân Đ và chị Nguyễn Thị Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, việc đăng ký kết hôn đã được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Gia đình hai bên cũng đã nhiều lần động viên hoà giải, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành hoà giải nhiều lần để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm nhưng đều không thành. Nay hai bên nhất trí thuận tình ly hôn.
Hội đồng xét xử đánh giá thấy có cơ sở xác định cuộc hôn nhân giữa anh Đ và chị Q đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 55, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh Đ và chị Q.
[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh Đ và chị Q có hai con chung là Phan Đình Khang T1, sinh ngày 30/3/2013 và Phan Thị Hồng A1, sinh ngày 17/12/2016. Anh Đ có nguyện vọng nuôi cháu Phan Đình Khang T1, sinh ngày 30/3/2013, chị Q có nguyện vọng nuôi cả hai con.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh Đ và chị Q hiện đều là giáo viên, có công việc thu nhập, chỗ ở ổn định. Cháu T1 là con trai nay đã 11 tuổi, cháu A1 là con gái 8 tuổi. Tuy cả hai con đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Tuy nhiên xét thấy: Hiện cháu T1 đã có thể phần nào tự lập trong việc chăm sóc bản thân, cháu A1 là con gái, còn nhỏ tuổi. Do đó sau khi xem xét quyền lợi về mọi mặt của con và ý kiến nguyện vọng của các bên Hội đồng xét xử thấy rằng anh Đ có nguyện vọng nuôi con lớn là cháu T1 là phù hợp nên được chấp nhận. Đối với cháu A1 cần giao cho mẹ nuôi dưỡng là phù hợp. Do mỗi bên nuôi một con nên không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh Đ và chị Q có quyền và có nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai có quyền cản trở.
[4] Về yêu cầu chia tài sản chung:
Vợ chồng có 01 xe ô tô 20A - xxxxx loại xe VIOS đăng ký tên chị Nguyễn Thị Q. Kết quả định giá là 270.000.000 đồng. Xét thấy đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân do đó xác định là tài sản chung vợ chồng của anh Đ và chị Q. Khi ly hôn hai bên đều đề nghị xem xét giải quyết chia tài sản chung là có căn cứ.
Về công sức đóng góp tạo dựng tài sản xét thấy rằng: Chị Q xác định xe ô tô mua năm 2020, chi phí đến khi lăn bánh khoảng 670 triệu đồng. Nguồn tiền mua xe ô tô chị vay ngân hàng 160 triệu đồng (nay chị đã trả xong), được bố mẹ đẻ cho 50 triệu đồng và cho vay riêng 150 triệu đồng. Tổng cá nhân chị đóng góp 360 triệu đồng. Ngoài ra còn phần của chị trong số tiền chung hai vợ chồng bỏ ra để mua xe. Do đó chị đề nghị Toà án xem xét công sức của chị và anh Đ theo tỷ lệ chị đóng góp 80%, anh Đ đóng góp 20%. Tại phiên toà, anh Đ thừa nhận khi mua xe hai vợ chồng có khoảng 200 triệu đồng, anh vay ngân hàng H1 120 triệu đồng (anh hiện nay vẫn chưa trả hết), chị Q vay ngân hàng 160 triệu đồng (chị Q đã tự trả xong), được bố mẹ vợ cho 50 triệu đồng. Về khoản tiền 150 triệu đồng, chị Q vay riêng của bố mẹ đẻ khi nào anh không biết. Do đó anh Đ cho rằng công sức đóng góp của hai vợ chồng là ngang nhau nên đề nghị chia đôi giá trị tài sản.
Tại phiên toà bà D trình bày: Khoản tiền 150 triệu đồng bà cho chị Q và anh Đ vay mục đích là mua chiếc xe ô tô chị Q và anh Đ đang tranh chấp hiện nay. Nhưng do ở góc độ tình cảm gia đình bà không yêu cầu anh Đ và chị Q viết giấy vay tiền. Nay anh Đ không thừa nhận có vay khoản tiền của vợ chồng bà. Bà không muốn tranh chấp kéo dài khiến con gái bà khổ tâm nên bà rút đơn yêu cầu độc lập, không đề nghị Toà án xem xét khoản nợ chung này nữa. Tuy nhiên bà xác định là có cho chung vợ chồng 50 triệu đồng và cho chị Q vay 150 triệu đồng để mua xe, điều kiện là xe ô tô đứng tên chị Q. Nay bà nhất trí với lời khai của chị Q tại phiên toà, cần xem xét công sức đóng góp của chị Q phần nhiều hơn so với anh Đ trong việc đóng góp mua ô tô. Như vậy, lời khai của anh Đ và chị Q cơ bản trùng khớp nhau về nguồn tiền mua xe ô tô, chỉ mâu thuẫn nhau ở khoản tiền 150 triệu đồng chị Q vay của bố mẹ đẻ.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Tuy anh Đ và chị Q không ai cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh công sức đóng góp của mình một cách cụ thể, tuy nhiên đánh giá lời khai của các bên đương sự, lời khai của bà D phù hợp với lời khai của chị Q, phù hợp với giấy đăng ký xe ô tô đứng tên chị Q. Từ đó có thể nhận định phần công sức đóng góp của chị Q chiếm khoảng 60%, anh Đ đóng góp khoảng 40% giá trị chiếc xe ô tô nói trên.
Hiện nay chị Q đứng tên đăng ký xe, đang trực tiếp sử dụng chiếc xe này, đồng thời giấy tờ đăng ký xe ô tô trên cũng được tín chấp tại Ngân hàng N để đảm bảo khoản vay. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy nên giao chiếc xe ô tô trên cho chị Q sở hữu sử dụng. Chị Q có nghĩa vụ thanh toán giá trị chênh lệch cho anh Đ theo quy định của pháp luật.
Như vậy, chị Q có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch tài sản cho anh Đ là 270.000.000 đồng - 162.000.000 đồng = 108.000.000 đồng.
Về nợ chung: Anh Đ và chị Q yêu cầu giải quyết các khoản nợ chung là các khoản vay gồm:
+ Nợ ngân hàng N theo Hợp đồng tín dụng số 8503LAV202301023 ngày 08/5/2023 ký giữa A2 Chi nhánh huyện P và bà Nguyễn Thị Q. Số tiền cho vay: 100.000.000 đồng. Mục đích sử dụng tiền vay: Mua vật liệu xây dựng công trình phụ nhà bếp. Tính đến ngày xét xử 24/5/2024 là 75.004.000 đồng, lãi theo hợp đồng.
+ Nợ ngân hàng H1 theo Hợp đồng tín dụng số TDU3800007 ngày 17/12/2019 vay số tiền 120 triệu đồng, thời gian vay 60 tháng, đảm bảo bằng tiền lương và khoản thu nhập khác. Tính đến 24/5/2024, dư nợ gốc là 26.940.000 đồng, lãi theo hợp đồng.
Xét thấy các đương sự đều xác định hai khoản vay trên là nợ chung vợ chồng là phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Phía Ngân hàng N và ngân hàng H1 không có yêu cầu độc lập, tuy nhiên anh Đ và chị Q yêu cầu Toà án giải quyết do đó trong vụ án này Toà án xem xét giải quyết phân chia nghĩa vụ trả nợ, không xem xét về các nội dung liên quan đến hợp đồng tín dụng.
Như vậy nợ chung vợ chồng là 75.004.000 đồng + 26.940.000 đồng = 101.944.000 đồng, về nguyên tắc khoản nợ được chia đôi, mỗi người có trách nhiệm trả một nửa, tương ứng với 50.972.000 đồng.
Xét thấy khoản vay ngân hàng N theo Hợp đồng tín dụng số 8503LAV202301023 ngày 08/5/2023 có tín chấp 01 xe ô tô BKS 20A - xxxxx. Khoản vay này đứng tên chị Q, vì vậy để thuận lợi trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng cần giao cho chị Q có nghĩa vụ trả khoản nợ trên cho ngân hàng N - chi nhánh huyện P.
Đối với khoản vay ngân hàng H1 theo Hợp đồng tín dụng số TDU3800007 ngày 17/12/2019 tuy là nợ chung nhưng đứng tên anh Đ, thế chấp lương của anh Đ do đó cần giao cho anh Đ có nghĩa vụ trả khoản vay này cho Ngân hàng H1 để thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng.
Như vậy, so với nghĩa vụ về khoản nợ chung (mỗi người phải trả 50.972.000 đồng), khoản nợ chị Q đang phải trả có giá trị lớn hơn (75.004.000 đồng - 50.972.000 đồng = 24.032.000 đồng), do đó cần khấu trừ phần chênh lệch khoản nợ này khi chia tài sản.
Trong thời kỳ hôn nhân anh Đ và chị Q còn có một số khoản vay khác tại ngân hàng N. Tuy nhiên trong vụ án này, không đương sự nào yêu cầu giải quyết do đó HĐXX không xem xét giải quyết. Trường hợp có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
Đối với khoản vay ông M bà D 150.000.000 đồng. Ban đầu chị Q xác định là nợ chung vợ chồng, nhưng tại phiên tòa, chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa bà D có đơn xin rút yêu cầu độc lập về việc đề nghị xem xét buộc anh Đ chị Q trả cho vợ chồng bà số tiền 150 triệu đồng đã vay năm 2020. Xét thấy việc rút đơn của bà D là hoàn toàn tự nguyện. Do đó Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của bà D, ông M trong vụ án này. Bà D được trả lại số tiền tạm ứng án phí và các tài liệu chứng cứ theo quy định của pháp luật.
[6] Chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá tài sản là 3.500.000 đồng, anh Đ đã nộp tạm ứng và thanh quyết toán xong. Nay cần buộc anh Đ phải chịu 40% số tiền trên là 1.400.000 đồng, cần buộc chị Q có trách nhiệm thanh toán lại cho anh Đ 60% số tiền trên là 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng).
[6] Về án phí: Theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Trong vụ án này anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Đ và chị Q đều có nghĩa vụ chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng và đối với nghĩa vụ trả nợ.
Bà D được trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 201, 217, 218, 219 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Các Điều 51, 55, 33, 59, 62, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Phan Nhân Đ và chị Nguyễn Thị Q.
2. Về con chung: Giao con chung là Phan Đình Khang T1, sinh ngày 30/3/2013 cho anh Phan Nhân Đ chăm sóc nuôi dưỡng; giao con chung là Phan Thị Hồng A1, sinh ngày 17/12/2016 cho chị Nguyễn Thị Q chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Q và anh Phan Nhân Đ có quyền và có nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai có quyền cản trở.
3. Tài sản chung, nợ chung:
Giao cho chị Nguyễn Thị Q sở hữu, sử dụng 01 xe ô tô vios BKS xe ô tô BKS 20A - xxxxx, (giấy chứng nhận đăng ký xe số 062627 do Công an tỉnh T cấp ngày 24/02/2020 đứng tên Nguyễn Thị Q).
Giao chị Nguyễn Thị Q có trách nhiệm trả khoản nợ ngân hàng N theo Hợp đồng tín dụng số 8503LAV202301023 ngày 08/5/2023 ký giữa A2 Chi nhánh huyện P và bà Nguyễn Thị Q. Số tiền cho vay: 100.000.000 đồng. Dư nợ gốc đến ngày 20/12/2023 là: 85.419.000 đồng. Mục đích sử dụng tiền vay: Mua vật liệu xây dựng công trình phụ nhà bếp. Nợ gốc còn lại tính đến ngày 24/5/2024 là 75.004.000 đồng và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng.
Giao anh Phan Nhân Đ có trách nhiệm trả khoản nợ ngân hàng H1 theo Hợp đồng tín dụng số TDU3800007 ngày 17/12/2019 vay số tiền 120 triệu đồng, thời gian vay 60 tháng, đảm bảo bằng tiền lương và khoản thu nhập khác. Nợ gốc còn lại tính đến ngày 24/5/2024 là 26.940.000 đồng và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng.
Chị Nguyễn Thị Q có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch tài sản chung, chênh lệch về nghĩa vụ trả nợ chung cho anh Phan Nhân Đ là 270.000.000 đồng - 162.000.000 đồng - 24.032.000 đồng = 83.968.000 đồng (tám mươi ba triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
4. Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của bà Nông Thị D do tự nguyện rút đơn yêu cầu độc lập.
5. Về chi phí tố tụng: Anh Phan Nhân Đ phải chịu 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (đã nộp xong).
Chị Nguyễn Thị Q phải thanh toán lại cho anh Phan Nhân Đ số tiền 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
6. Án phí:
Anh Phan Nhân Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 5.400.000 (năm triệu bốn trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước, được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0004380 ngày 18/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương. Anh Đ còn phải tiếp tục nộp số tiền 5.400.000 (năm triệu bốn trăm nghìn) đồng vào Ngân sách Nhà nước.
Chị Nguyễn Thị Q phải chịu 8.100.000 đồng (tám triệu một trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Bà Nông Thị D được trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0004485 ngày 29/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Kể từ ngày người được quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp bên có nghĩa vụ thi hành án chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xét xử sơ thẩm công khai, báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Bản án về ly hôn số 27/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 27/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Phú Lương - Thái Nguyên |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 29/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về