Bản án về ly hôn số 173/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 173/2024/HNGĐ-ST NGÀY 24/09/2024 VỀ LY HÔN

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 213/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 338/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1996 (xin vắng mặt). Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 6 năm 2024 nguyên đơn bà Đỗ Thị Y trình bày: Vào năm 2013, bà và ông Lê Văn K tự nguyện chung sống với nhau đến năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm hay cự cãi, nên vợ chồng không còn chung sống từ năm 2021 đến nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Lê Văn K.

Trong quá trình chung sống bà và ông K có một người con chung tên Lê Đại P, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2015 con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng; sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với ông Lê Văn K là bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông K vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Y. Cho bà Đỗ Thị Y ly hôn với ông Lê Văn K; giao con chung cho bà Đỗ Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng; ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Đỗ Thị Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Lê Văn K, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Đỗ Thị Y là nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Đỗ Thị Y. Ông Lê Văn K là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Lê Văn K.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Y và ông Lê Văn K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013 đến năm 2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân của bà Đỗ Thị Y với ông Lê Văn K là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà Y yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông Lê Văn K. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ ông Lê Văn K nhiều lần để tham gia xét xử nhưng ông K vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Đỗ Thị Y. Bà Đỗ Thị Y cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2021 cho đến nay. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên tình trạng hôn nhân giữa bà Đỗ Thị Y với ông Lê Văn K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Y về việc yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn K.

[4]. Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Đỗ Thị Y với ông Lê Văn K có một người con chung tên Lê Đại P sinh ngày 27 tháng 8 năm 2015, con chung đang chung sống với bà. Bà Y yêu cầu được trực tiếp nuôi người con chung. Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý cho ông Lê Văn K nhưng ông K không có ý kiến gì về yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Đỗ Thị Y. Xét thấy, con chung hiện nay do bà Y trực tiếp nuôi dưỡng, ông K không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của bà Y và ông K cũng không có yêu cầu nuôi con chung; người con chung tên Lê Đại P có nguyện vọng được chung sống với bà Y thể hiện tại bản tự khai ngày 27 tháng 6 năm 2024. Do đó, Hội đồng xét xử giao người con chung tên Lê Đại P, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2015 cho bà Đỗ Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

[5]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Đỗ Thị Y yêu cầu ông Lê Văn K cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng. Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý cho ông Lê Văn K nhưng ông K không có ý kiến gì về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Y. Tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Áp dụng điều luật đã viện dẫn thì bà Y yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Y, buộc ông Lê Văn K cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Đại P, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2015 mỗi tháng 1.000.000đ, hình thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi người con chung đủ 18 tuổi.

[6]. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7]. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Đỗ Thị Y phải chịu 300.000đ, bà Y đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí. Ông Lê Văn K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 244; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đỗ Thị Y và ông Lê Văn K.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Lê Đại P, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2015 cho bà Đỗ Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Buộc ông Lê Văn K cấp dưỡng nuôi con chung Lê Đại P, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2015 mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng), hình thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi người con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí:

- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Đỗ Thị Y phải chịu 300.000 đồng, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu tiền số 0003652 ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, bà Y đã nộp đủ án phí.

- Buộc ông Lê Văn K nộp án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

57
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 173/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:173/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về