TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 13/2023/HNGĐ-ST NGÀY 11/01/2023 VỀ LY HÔN
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 357/2022/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 950/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1025/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim T – sinh năm 1981 Địa chỉ: xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.(Xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Phi B – sinh năm 1974 Địa chỉ: xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn khởi kiện ngày 21 tháng 10 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Bà Trần Thị Kim T trình bày:
Bà Trần Thị Kim T và Ông Nguyễn Phi B đã tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2009 theo Giấy chứng nhận kết hôn số xx quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường 04, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/01/2009.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cách sống của hai bên không còn hòa hợp, thường xuyên cãi vã dẫn đến cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, không có tiếng nói chung. Ông B thường xuyên vắng nhà, vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Tháng 07/2022, bà T đã nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông B nhưng sau đó đã rút đơn để vợ chồng hàn gắn tình cảm gia đình. Tuy nhiên, tình cảm vợ chồng vẫn không thể hàn gắn, mâu thuẫn giữa bà T và ông B không thể giải quyết, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
Nay, Bà Trần Thị Kim T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Phi B.
Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Không có Về nợ chung: Không có.
Ông Nguyễn Phi B là bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do và cũng không có gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt các đương sự đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua phần tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà T là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
[1.1] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì quan hệ tranh chấp giữa Bà Trần Thị Kim T và Ông Nguyễn Phi B được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông B có địa chỉ cư trú tại huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Phi B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như Quyết định hoãn phiên tòa để ông B tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông B vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân.
Bà Trần Thị Kim T yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Phi B.
Hội đồng xét xử xét:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số xx quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường 04, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/01/2009 thì quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông B là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;
cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
Như vậy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, cùng vun đắp, chăm sóc lẫn nhau để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Trên thực tế hôn nhân giữa bà T và ông B đã không còn hòa hợp, và phát sinh nhiều mâu thuẫn nên bà T đã nộp đơn yêu cầu ly hôn ông B vào tháng 07 năm 2022 nhưng sau đó đã rút yêu cầu vì muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đến tháng 10 năm 2022, bà T tiếp tục nộp đơn yêu cầu ly hôn ông B chứng tỏ hôn nhân giữa bà T và ông B không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn.
Mặc dù theo kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân tại địa phương thì địa phương không giải quyết mâu thuẫn giữa bà T và ông B nhưng từ khi vụ án được thụ lý giải quyết, ông B đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắc trong cuộc sống vợ chồng cũng như trình bày ý kiến của mình nhưng ông B vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa hôm nay, ông B cũng vắng mặt, việc ông B không có mặt tại Tòa án để làm việc chứng tỏ ông B không còn quan tâm đến gia đình, cũng như không có thiện chí hàn gắn, xây dựng tình cảm vợ chồng với bà T. Như vậy, có đủ cơ sở xác định cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông B hoàn toàn không hạnh phúc, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà T với ông B là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, bà T có nghĩa vụ phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 19; 51; 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim T được ly hôn ông Nguyễn Phi B.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
2/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng Bà Trần Thị Kim T có nghĩa vụ phải nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng mà bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/xxxxxxx ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Bà T đã nộp đủ án phí.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4/ Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về ly hôn số 13/2023/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 13/2023/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 11/01/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về