Bản án về ly hôn số 11/2025/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 11/2025/HNGĐ-ST NGÀY 13/01/2025 VỀ LY HÔN

Ngày 13 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 558/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp“Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Tú A, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh C ..

- Bị đơn: Anh Trần Văn M1, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh C .

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn là chị Nguyễn Tú A trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn M1 tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau năm 2008. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau thì vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, cãi vã bất đồng quan điểm kéo dài, hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không có kết quả và chị, anh M1 đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh M1 không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không Đ được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M1.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị Tú A  và anh M1 có 01 người con chung tên Trần Thành Đ sinh ngày 09/12/2007 đang sống cùng anh M1. Sau khi ly hôn, chị đồng ý giao con cho anh M1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Đơn xin vắng mặt ngày 26/12/2024, chị Nguyễn Tú A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Do điều kiện ở xa, đi lại khó khăn nên chị xin được vắng mặt tại các buổi hòa giải và xét xử của Tòa án. Chị cam đoan đồng ý với phán quyết của Tòa án, không thắc mắc hay khiếu nại về sau.

* Tại biên bản ghi lời trình bày ngày 02/12/2024, bị đơn là anh Trần Văn M1 trình bày:

- Về hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Tú A  về thời gian kết hôn, thời gian phát sinh mâu thuẫn và thời gian sống ly thân, anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Tú A.

- Về con chung: Anh thống nhất theo lời trình bày của chị Tú A , anh đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Thành Đ sinh ngày 09/12/2007 và không yêu cầu chị Tú A  phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh thống nhất theo lời trình bày của chị Tú A , không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Anh thống nhất nhất theo lời trình bày của chị Tú A , trong thời gian chung sống không có nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa chị Nguyễn Tú A và anh Trần Văn M1 là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc“Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh Trần Văn M1 có địa chỉ cư trú tại ấp T, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án anh Trần Văn M1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh M1 là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn là chị Nguyễn Tú A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Tú A và anh Trần Văn M1 tự nguyện kết hôn vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Tú A  và anh M1 đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo chị Tú A  trình bày, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhiên về sau thì vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, cãi vã bất đồng quan điểm kéo dài, hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không có kết quả, chị Tú A  và anh M1 đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh M1 không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không Đ được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M1.

Đối với anh M1, quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, tuy nhiên tại biên bản ghi lời trình bày ngày 02/12/2024 anh M1 thống nhất theo yêu cầu của chị Tú A, đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị Tú A  và anh M1 đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn Đ được đúng như chị Tú A  xác định. Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tú A , cho chị Tú A  được ly hôn với anh Trần Văn M1.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống, chị Tú A  và anh M1 có 01 người con chung tên Trần Thành Đ sinh ngày 09/12/2007 hiện nay đang sống cùng anh M1. Sau khi ly hôn, chị Tú A  đồng ý giao con chung cho anh M1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Theo quy định của pháp luật thì:“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…”.

Xét thấy: cháu Trần Thành Đ sinh ngày 09/12/2007 từ khi chị Tú A  và anh M1 ly thân thì đã do anh M1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Tú A  đồng ý giao con chung cho anh M1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và anh M1 cũng đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Thành Đ. Tại biên bản ngày 02/12/2024 cháu cũng có nguyện vọng sống cùng cha sau khi cha mẹ cháu là anh M1 và chị Tú A  ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào lời trình bày của anh M1, chị Tú A  và theo nguyện vọng của cháu Đ, cần giao cháu Đ cho anh M1 được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp.

Chị Tú A  không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung, nợ riêng:

Về tài sản chung: Chị Tú A  và anh M1 xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung, nợ riêng: Chị Tú A  và anh M1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Tú A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Tú A, cho chị Tú A  được ly hôn với anh Trần Văn M1.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Thành Đ sinh ngày 09/12/2007 cho anh M1 được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, chị Tú A  không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Tú A  không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung, nợ riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Tú A phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 08 tháng 10 năm 2024 chị Tú A  có dự nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0013697 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Tú A  và anh M1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

68
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 11/2025/HNGĐ-ST

Số hiệu:11/2025/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về